Bản án 86/2017/HNGĐ-ST ngày 28/08/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 86/2017/HNGĐ-ST NGÀY 28/08/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON VÀ CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN 

Ngày 28 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 97/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2017 về  ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1344/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu H, ĐKNKTT tại số 386 M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, trú tại: Số 12D/642 M, phường D, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bá T, cư trú tại: 150 Ranee Ave, N, T, Ontario, Canada. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn và tại các bản tự khai nguyên đơn là chị Đặng Thị Thu H trình bày: Chị và anh Nguyễn Bá T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 21/6/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng mấy năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng về quan điểm, lối sống. Mâu thuẫn của hai bên đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến tháng 10/2016 anh T sang Canada làm ăn sinh sống. Từ đó đến nay anh T cũng không trở về Việt Nam lần nào, vợ chồng không liên lạc với nhau. Nay xác định hai bên không còn tình cảm, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/7/1999 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết và cháu Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 23/10/2003, hai bên thống nhất giao cháu Trang A cho anh T nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đơn xin ly hôn của bị đơn là anh Nguyễn Bá T gửi về cho Tòa án trình bày thời gian kết hôn, quá trình chung sống và vấn đề con chung, tài sản chung thống nhất với trình bày của chị H. Anh T cũng nhất trí yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Tại phiên tòa, chị H và anh T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Đặng Thị Thu H và anh Nguyễn Bá T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 21/6/1999. Theo các quy định của pháp luật đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị H và anh T cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn của anh chị nên theo khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Anh T và chị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T và chị H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng chỉ chung sống một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn chưa được khắc phục thì đến tháng 10 năm 2016 anh T sang Canada làm ăn sinh sống. Từ đó đến nay  vợ chồng không liên lạc với nhau, anh T cũng không trở về Việt Nam lần nào. Nay hai bên xác định không còn tình cảm, không có khả năng đoàn tụ nên việc anh T và chị H cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là hoàn toàn chính đáng.

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị H và nh T tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đồng thời việc thuận tình ly hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H và anh T..

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/7/1999 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết và cháu Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 23/10/2003, hai bên thống nhất giao cháu Trang A cho anh T nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy việc thỏa thuận của anh T và chị H là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định pháp luật. Do đó cần áp dụng Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận thỏa thuận của anh chị về con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị H và anh T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37; điểm c khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Bá T.

2. Về con chung:

Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 23/10/2003 cho anh Nguyễn Bá T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/7/1999 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đặng Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003863 ngày 27 tháng 7 năm 2017 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo:

- Chị Đặng Thị Thu H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

- Anh Nguyễn Bá T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ./.


132
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2017/HNGĐ-ST ngày 28/08/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản khi ly hôn

Số hiệu:86/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về