Bản án 86/2017/HNGĐ-ST ngày 12/09/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 86/2017/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 12 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2017 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2017/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2017, giữa:

Nguyên đơn: Anh Đỗ Mạnh C, sinh năm 1983 “vắng mặt” Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện D, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1985 “vắng mặt” Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2017 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh  Đỗ  Mạnh C trình bày:

Anh và chị  Bùi  Thị H đăng ký kết hôn ngày 18/9/2007 tại UBND xã B, huyện N, tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên sống xa nhau nên không hiểu và thông cảm cho nhau, vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2014 đến nay, chấm dứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có một con chung là Đỗ Thái Linh, sinh ngày 12/10/2007, cháu khỏe mạnh phát triển bình thường. Hiện nay cháu đang ở với chị H, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của cháu.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do anh Đỗ Mạnh C có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh C.

Tại bản tự khai ngày 11/8/2017 và các lời khai tiếp theo, bị đơn chị Bùi Thị H trình bày: Về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn như anh C trình bày là đúng. Nay anh C làm đơn xin ly hôn chị cũng nhất trí đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có một con chung là Đỗ Thái Linh, sinh ngày 12/10/2007, cháu khỏe mạnh phát triển bình thường. Hiện nay cháu đang ở với chị, chị đề nghị được nuôi con và nguyện vọng của cháu Linh cũng muốn ở với chị.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng chị không có.

Do chị Bùi Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 272 và 273 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Đỗ Mạnh C và chị Bùi Thị H.

Về nuôi con chung: Giao con chung Đỗ Thái Linh, sinh ngày 12/10/2007 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.

Về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh C, chị H. Anh C, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Mạnh C và chị Bùi Thị H đăng ký kết hôn ngày 18/9/2007 tại UBND xã B, huyện N, tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện nên hôn nhân giữa anh C và chị H là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng anh C, chị H chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn B, xã B, huyện N làm ăn sinh sống. Vợ chồng đã ly thân, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Nay anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H, chị H cũng nhất trí ly hôn. Điều đó chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa anh C và chị H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh C được ly hôn chị H.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng anh C, chị H có một con chung là Đỗ Thái Linh, sinh ngày 12/10/2007, cháu khỏe mạnh phát triển bình thường. Hiện nay cháu đang ở với chị H, chị H đề nghị được nuôi con và nguyện vọng của cháu Linh cũng muốn được ở với chị H nên cần giao cháu Linh cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Anh C phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 227, 228, 238, 147, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Đỗ Mạnh C và chị Bùi Thị H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Đỗ Thái Linh, sinh ngày 12/10/2007 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Anh Đỗ mạnh C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng anh C đã nộp tại biên lai thu số AA/2010/000902 ngày 12/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


158
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2017/HNGĐ-ST ngày 12/09/2017 về ly hôn

Số hiệu:86/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Nam - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về