Bản án 85/2020/DS-ST ngày 21/09/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 85/2020/DS-ST NGÀY 21/09/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2020/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2020/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N; trụ sở: Tháp B, số 35, V, quận K, thành phố N.

Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Duy K - Chức vụ: Phó trưởng phòng QLRR – Ngân hàng TMCP Nam – Chi nhánh D (là người đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 05/5/2020). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Mai Anh T, sinh năm 1990; thường trú: C2/23B, khu phố L, phường H, thành phố A, tỉnh D; tạm trú: Tổ 1, khu nhà ở An Trung, khu phố P 1, phường B, thành phố A, tỉnh D. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 05/5/2020, quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 13/02/2015, ông Nguyễn Mai Anh T có ký hợp đồng tín dụng số 44/2015/3601913/HĐTD và Điều kiện và điều khoản vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm (đính kèm theo hợp đồng) với Ngân hàng thương mại cổ phần N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn 36 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất cho vay 11.5%, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn được điều chỉnh trên nợ gốc thực tế quá hạn và thời hạn quá hạn.

Thc hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền trên cho ông T (theo bảng kê rút vốn ngày 13/02/2015), ông T đã thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc 15.120.000 đồng, lãi 3.535.339 đồng. Từ ngày 17/11/2016 cho đến nay, ông T không thanh toán bất kỳ khoản nợ nào khác, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T thanh toán nợ tính đến hết ngày 21/9/2020 là 67.138.036 đồng, trong đó: Nợ gốc 34.880.000 đồng, nợ lãi trong hạn 23.513.696 đồng, nợ lãi quá hạn 8.744.340 đồng. Đồng thời yêu cầu ông T tiếp tục trả tiền lãi từ ngày 22/9/2020 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Mai Anh T: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án yêu cầu bị đơn có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

+ Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 01/9/2020, 21/9/2020 nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng.

+ Về nội dung vụ án đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 28/7/2020 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung: Xét hợp đồng tín dụng số 44/2015/3601913/HĐTD ngày 13/02/2015 và Điều kiện và điều khoản vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm (đính kèm theo hợp đồng) giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Mai Anh T thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Mai Anh T thanh toán cho Ngân hàng được 18.655.339 đồng, trong đó nợ gốc 15.120.000 đồng, lãi 3.535.339 đồng. Từ ngày 17/11/2016, cho đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện, ông T không thanh toán bất kỳ khoản nợ nào khác. Như vậy, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Do đó, Ngân hàng căn cứ vào thỏa thuận giữa hai bên, quy định trong hợp đồng giữa các bên để khởi kiện là có căn cứ chấp nhận.

[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán khoản nợ tính đến hết ngày 21/9/2020 là 67.138.036 đồng, trong đó: Nợ gốc 34.880.000 đồng, nợ lãi trong hạn 23.513.696 đồng, nợ lãi quá hạn 8.744.340 đồng. Đồng thời, bị đơn còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/9/2020 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Mai Anh T phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N đối với bị đơn ông Nguyễn Mai Anh T về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Nguyễn Mai Anh T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền còn nợ tính đến hết ngày 21/9/2020 là 67.138.036 đồng (sáu mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám nghìn không trăm ba mươi sáu đồng), trong đó:

+ Nợ gốc 34.880.000 đồng (Ba mươi bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).

+ Nợ lãi trong hạn 23.513.696 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi sáu đồng).

+ Nợ lãi quá hạn 8.744.340 đồng (Tám triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi đồng).

Tiền lãi được tiếp tục tính từ ngày 22/9/2020 cho đến khi ông Nguyễn Mai Anh T thanh toán xong các khoản nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng 44/2015/3601913/HĐTD ngày 13/02/2015 và Điều kiện và điều khoản vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm (đính kèm theo hợp đồng).

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Mai Anh T phải chịu 3.356.901 (ba triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm lẻ một) đồng. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N 1.610.000 (một triệu sáu trăm mười nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0040569 ngày 27/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

4. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

86
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 85/2020/DS-ST ngày 21/09/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:85/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về