Bản án 85/2019/HS-ST ngày 31/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 85/2019/HS-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019/QĐXXST-HS ngày 16/5/2019 đối với các bị cáo:

1. Bùi Thanh T, sinh năm: 1984; Nơi cư trú: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn):10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Đ và bà Trần Kim L (đều đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1986 và 01 người con, sinh năm 2018; Tiền án: Bản án số 201/2018/HS-ST ngày 26/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành hình phạt; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 01/HSST ngày 18/11/2002, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong và xóa án tích, Bản án số 2063/2005/HSPT ngày 19/12/2005 Tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong và xóa án tích; Bị bắt, tạm giam từ ngày 05/01/2019 cho đến nay (có mặt).

2. Huỳnh Công T1 (tên gọi khác: Tâm C), sinh năm: 1976 tại huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Ấp V, xã V1, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Công B và bà Phùng Thị N; bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Bản án số 26/2018/HSST ngày 05/10/2018, Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/4/2019, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 1009/QĐ-UB ngày 16/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 09/7/2008 Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Quyết định số 270/QĐ-UBND ngày 05/02/2013 Ủy ban nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị bắt, tạm giam từ ngày 10/4/2019 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại:

Anh Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Nơi cư trú: đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Nơi cư trú: đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Ông Hồng Việt Đ1, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Nơi cư trú: đường B, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm1965 (vắng mặt)

Nơi cư trú: đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Nơi cư trú: đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1986 – Vợ của bị cáo Bùi Thanh T (vắng mặt)

 Nơi cư trú: đường T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thanh T, Huỳnh Công T1 và Hoàng Minh N đều là người không có nghề nghiệp ổn định, cần tiền tiêu xài và để mua ma túy sử dụng nên đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp trên địa bàn thành phố Rạch Giá. Cách thức thực hiện là lợi dụng trời tối, T, T1 và N tìm nhà và các cửa hàng kinh doanh điện thoại khóa cửa bên ngoài, không có người trông coi, tìm cách mở ổ khóa, đột nhập vào trong lấy trộm tài sản. Từ ngày 13/6/2018 đến ngày 04/01/2019, T và đồng bọn đã thực hiện các vụ trộm cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 13/6/2018 T1 điều khiển xe mô tô (hiện đã bán lại cho người khác và không nhớ biển số) chở T đi đến khu vực chợ Tắc Ráng thì T1 phát hiện tiệm điện thoại “Đ 3” của anh Nguyễn Phát Đ tại Lô 9 chợ Tắc Ráng, khu phố 3, phường An Hòa khóa cửa bên ngoài. T1 dùng đá để đập ổ khóa của hai lớp cửa phía bên phải và cả hai vào trong tiệm lấy được 02 máy tính bảng nhãn hiệu KingCom Sky, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 225 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6100 màu đỏ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel N530 màu vàng, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Mobell 7S màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A7 màu vàng. Đến sáng thì cả hai đem số tài sản trên đến một tiệm điện thoại gần chợ Bắc Sơn (không nhớ địa chỉ) bán được 1.600.000 đồng, T và T1 chia mỗi người một nửa và đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ, ngày 07/12/2018 N điều khiển xe mô tô chở T, khi đi đến số nhà 57 đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo của ông Huỳnh Thanh H thì cả hai thấy nhà đang sửa chữa và khóa cửa bên ngoài. T dùng đá đập ổ khóa cửa, sau đó T ra ngoài canh chừng cho N vào trong nhà lấy trộm tài sản. N đã lấy được 01 máy cắt gạch màu đỏ, 01 máy cắt sắt màu xanh, 01 máy bơm nước rửa xe màu vàng. Đến sáng thì cả hai đem số tài sản trên bán cho một tiệm điện (không nhớ địa chỉ) trên đường Trần Phú, phường Vĩnh Thanh được 700.000 đồng, cả hai chia nhau và đã tiêu xài hết.

Vụ thứ ba: Khoảng 02 giờ, ngày 02/01/2019 T điều khiển xe mô tô biển số 68S9-7364 (xe do T thuê của một người không rõ tên, địa chỉ) khi chạy vào trong hẻm 34 đường Nguyễn Văn Cừ, phường Vĩnh Lạc thì T nhìn thấy cạnh số nhà 34/21 là nhà của ông Hồng Việt Đ1 đang xây dựng, phía trước có một nhà kho. T dùng tay nhấc một bên của cánh cửa nhà kho lên rồi chui vào bên trong, T lấy được 01 mô tơ trộn bê tông màu xám, 01 máy cắt sắt màu xám, 01 máy khoan tay bắt vít màu xám. Đến sáng T đem các tài sản trên bán cho một tiệm điện (không nhớ địa chỉ) trên đường Trần Phú, phường Vĩnh Thanh được 800.000 đồng, số tiền có được T đã tiêu xài cá nhân hết. Ông Hồng Việt Đ1 còn khai nhận bị mất thêm 01 máy cưa cây cầm tay màu xám, 01 máy cắt đá cầm tay màu xám, 01 máy khoan bê tông màu xám, nhưng T không thừa nhận có lấy trộm các tài sản này, và hiện chưa xác định được đối tượng đã lấy trộm, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ.

Vụ thứ tư: Khoảng 03 giờ, ngày 04/01/2019, T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 68S9-7364, khi đi đến số nhà 530/2A đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Lạc của ông Nguyễn Văn H1 thì T thấy nhà đang sửa chữa và khóa cửa bên ngoài. T dùng đá đập phá 02 ổ khóa cửa rồi đột nhập vào trong nhà. T lấy được 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GSB 16 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GBM 6 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu DEWALT DW 515 màu đỏ, 01 máy mài nhãn hiệu BOSCH GWS 6- 100 màu xanh nước biển, 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND màu xanh, 01 mô tơ có gắn máy nén khí nhãn hiệu JETMAN màu xanh lá cây và 01 máy mài cầm tay không rõ nhãn hiệu. Sau đó, T chở các tài sản đã trộm được đem đến chân cầu Vành Đai, thuộc phường Vĩnh Hiệp cất giấu. Đến sáng T đem bán 03 máy khoan và 01 máy mài màu xanh cho anh Nguyễn Trọng T2 chủ tiệm điện “Văn Bảy” tại số 67 đường Trần Phú, phường Vĩnh Thanh được 700.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục bán 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND màu xanh cho một người đi đường (không rõ tên) được 600.000 đồng; còn lại 01 mô tơ có gắn máy nén khí nhãn hiệu JETMAN màu xanh lá cây thì T đem về phòng trọ cất giấu. Đối với 01 máy mài cầm tay không rõ nhãn hiệu đã bị rớt khi T đem đồ trộm được đi cất giấu ở chân cầu Vành Đai.

Như vậy, bị cáo T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản; bị cáo T1 thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản.

Vật chứng thu giữ được trong vụ án:

Thu giữ của anh Nguyễn Trọng T2: 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GSB 16 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GBM 6 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu DEWALT DW 515 màu đỏ, 01 máy mài nhãn hiệu BOSCH GWS 6-100 màu xanh nước biển (đều đã qua sử dụng);

Thu giữ của bị cáo Bùi Thanh T: 01 mô tơ có gắn máy nén khí nhãn hiệu JETMAN màu xanh lá cây (đã qua sử dụng).

Đối với: 02 máy tính bảng nhãn hiệu KingCom Sky màu đen màn hình 7 inch, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 225 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6100 màu đỏ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel N530 màu vàng, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Mobell 7S màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A7 màu vàng, 01 máy cắt gạch màu đỏ, 01 máy cắt sắt màu xanh, 01 máy bơm nước rửa xe màu vàng, 01 mô tơ trộn bê tông màu xám, 01 máy cắt sắt bàn lớn màu xám, 01 máy khoan tay bắt vít màu xám, 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND màu xanh và 01 máy mài cầm tay không rõ nhãn hiệu (đều đã qua sử dụng), là tài sản mà các bị cáo đã lấy trộm và bán cho người khác, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 279/KL - TCKH, ngày 26/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận:

- 02 máy tính bảng nhãn hiệu KingCom Sky, màu đen, Ram 512 MB, màn hình 7 inch, có giá trị còn lại là 1.300.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 225 màu trắng, có giá trị còn lại là 3500.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6100 màu đỏ, có giá trị còn lại là 200.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel N530 màu vàng, có giá trị còn lại là 800.000 đồng;

- 01 máy tính bảng nhãn hiệu Mobell 7S màu vàng, Ram 01 GB, Rom 08 GB, màn hình 7 inch, có giá trị còn lại là 1.500.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A7 màu vàng, Ram 02 GB, Rom 16 GB, màn hình 5 inch, có giá trị còn lại là 2.500.000 đồng;

Tổng cộng: 6.750.000 đồng (là các tài sản bị trộm trong vụ thứ nhất).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 22/KL - TCKH, ngày 30/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận:

- 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GSB 16 RE màu xanh nước biển, công suất 701W, có giá trị còn lại là 800.000 đồng;

 - 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GBM 6 RE màu xanh nước biển, công suất 350W, có giá trị còn lại là 500.000 đồng;

- 01 máy khoan nhãn hiệu DEWALT DW 515 màu đỏ, công suất 670W, có giá trị còn lại là 500.000 đồng;

- 01 máy mài nhãn hiệu BOSCH GWS 6-100 màu xanh nước biển, công suất 670W, có giá trị còn lại là 700.000 đồng;

- 01 mô tơ có gắn máy nén khí nhãn hiệu JETMAN model 9L/8Kw, màu xanh, công suất 900W. dung tích 09 lít, có giá trị còn lại là 1.400.000 đồng.

Tổng cộng là: 3.900.000 đồng (là các tài sản bị trộm trong vụ thứ tư).

- Ngoài ra, tại bản kết luận định giá tài sản số: 22/KL - TCKH, ngày 30/01/2019 còn kết luận tài sản không định giá được giá trị là: 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND màu xanh; 01 máy mài cầm tay, không rõ nhãn hiệu. Do tài sản trưng cầu không có hiện vật, không có số loại, không xác định thời gian sử dụng, không có các chứng từ, hóa đơn hợp lệ để làm cơ sở cho việc định giá.

Người bị hại ông Nguyễn Văn H1 và bị cáo T thống nhất giá trị tài sản còn lại của 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND màu xanh là 600.000 đồng; đối với 01 máy mài cầm tay không định giá được và bị cáo T khai làm mất khi đem cất giấu thì ông H1 xác định không yêu cầu xem xét và không buộc bị cáo T phải bồi thường.

Tại Công văn số 06, 07/TCKH-TS ngày 04/3/2019 của Phòng Tài chính – kế hoạch thành phố Rạch Giá đã từ chối định giá tài sản bị thiệt hại theo yêu cầu, do không thu hồi được tang vật, không có hóa đơn chứng từ, không xác định được đặc điểm, chủng loại, xuất xứ cụ thể nên không có cơ sở để định giá tài sản bị thiệt hại, đối với các tài sản gồm: 01 máy cắt gạch màu đỏ, 01 máy cắt sắt màu xanh, 01 máy bơm nước rửa xe màu vàng, 01 mô tơ trộn bê tông màu xám, 01 máy cắt sắt bàn lớn màu xám, 01 máy khoan tay bắt vít màu xám, 01 máy cưa cây cầm tay màu xám, 01 máy cắt đá cầm tay màu xám, 01 máy khoan bê tông màu xám. (là các tài sản bị trộm trong vụ thứ hai và vụ thứ ba)

Người bị hại ông Huỳnh Thanh H và bị cáo T thống nhất các tài sản mà ông H bị mất trộm có tổng giá trị là 2.100.000 đồng.

Người bị hại ông Hồng Việt Đ1 và bị cáo T thống nhất các tài sản mà T đã lấy trộm có tổng giá trị là 5.300.000 đồng.

Ngày 25 tháng 01 năm 2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả: 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GSB 16 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GBM 6 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu DEWALT DW 515 màu đỏ, 01 máy mài nhãn hiệu BOSCH GWS 6-100 màu xanh nước biển, 01 mô tơ có gắn máy nén khí nhãn hiệu JETMAN màu xanh, cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H1.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về kết luận định giá tài sản trên.

Về phần dân sự:

Bị hại ông Nguyễn Văn H1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm, đối với 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND màu xanh và 01 máy mài cầm tay không rõ nhãn hiệu thì ông không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường.

Bị hại anh Nguyễn Phát Đ, ông Huỳnh Thanh H, ông Hồng Việt Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Trọng T2 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.

Từ ngày 10/01/2019 đến 15/3/2019, Bùi Thanh T và Huỳnh Công T1 lần lượt bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; Khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam để điều tra.

Đối với Hoàng Minh N, sau khi cùng bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bỏ đi khỏi địa phương. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số: 76/CT-VKSNDTPRG ngày 03/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Bùi Thanh T và bị cáo Huỳnh Công T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Thanh T và bị cáo Huỳnh Công T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm r điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g điểm h Điều 52, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Thanh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đồng thời tổng hợp hình phạt với Bản án số 201/2018/HS-ST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Huỳnh Công T1 từ 09 đến 12 tháng tù.

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

 - Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường tài sản bị thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị miễn xét.

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; buộc bị cáo T giao nộp 3.600.000 đồng, buộc bị cáo T1 giao nộp 800.000 đồng, là tiền do các bị cáo phạm tội mà có để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả tài sản cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H1.

Tuy các bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã có lời khai xác định: Bị hại ông Nguyễn Văn H1 đã nhận lại tài sản bị trộm do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá giao trả; đối với các tài sản bị trộm cắp không thu hồi được, các bị hại cùng thống nhất không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng T2 xác định có mua các tài sản như đã nêu trên, khi mua ông không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có. Ông đã tự nguyện giao nộp lại đầy đủ cho cơ quan điều tra và không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại.

Lời nói sau cùng của bị cáo T: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bản thân là sai trái và cảm thấy ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với bị cáo T1 không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Thanh T và Huỳnh Công T1 khai nhận: Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Cụ thể: Các bị cáo đều là người không có nghề nghiệp ổn định, do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp trên địa bàn thành phố Rạch Giá. Cách thức thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo là lợi dụng trời tối, các bị cáo chạy xe trên đường để tìm nhà và cửa hàng kinh doanh điện thoại khóa cửa bên ngoài, không có người trông coi, tìm cách mở ổ khóa, đột nhập vào trong lấy trộm tài sản.

Bằng cách thức trên, từ ngày 13/6/2018 đến ngày 04/01/2019, bị cáo T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản với tổng số tiền là 18.650.000 đồng; bị cáo T1 thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản với tổng số tiền là 6.750.000 đồng. Cụ thể như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 13/6/2018, tại tiệm điện thoại “Đ 3” ở Lô 9 chợ Tắc Ráng, khu phố 3, phường An Hòa, T và T1 lấy trộm của anh Nguyễn Phát Đ tổng cộng 07 tài sản gồm: 02 máy tính bảng nhãn hiệu KingCom Sky, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 225 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6100 màu đỏ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel N530 màu vàng, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Mobell 7S màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A7 màu vàng. Qua định giá tổng giá trị tài sản là 6.750.000 đồng.

Khoảng 01 giờ, ngày 07/12/2018, tại số nhà 57 đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo, bị cáo T cùng với Hoàng Minh N lấy trộm của ông Huỳnh Thanh H tổng cộng 03 tài sản gồm: 01 máy cắt gạch màu đỏ, 01 máy cắt sắt màu xanh, 01 máy bơm nước rửa xe màu vàng. Tổng giá trị tài sản theo sự thống nhất của bị cáo T và ông H được xác định là 2.100.000 đồng.

Khoảng 02 giờ, ngày 02/01/2019, tại căn nhà nằm cạnh số nhà 34/21 đường Nguyễn Văn Cừ, phường Vĩnh Lạc, bị cáo T lấy trộm của ông Hồng Việt Đ1 tổng cộng 03 tài sản gồm: 01 mô tơ trộn bê tông màu xám, 01 máy cắt sắt màu xám, 01 máy khoan tay bắt vít màu xám. Tổng giá trị tài sản theo sự thống nhất của bị cáo T và ông Đ1 được xác định là 5.300.000 đồng.

Khoảng 03 giờ, ngày 04/01/2019, tại số nhà 530/2A đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Lạc, bị cáo T lấy trộm của của ông Nguyễn Văn H1 tổng cộng 07 tài sản gồm: 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GSB 16 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GBM 6 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu DEWALT DW 515 màu đỏ, 01 máy mài nhãn hiệu BOSCH GWS 6-100 màu xanh nước biển, 01 mô tơ có gắn máy nén khí nhãn hiệu JETMAN màu xanh (qua định giá các tài sản này giá trị là 3.900.000 đồng), 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND màu xanh (giá trị tài sản theo sự thống nhất của bị cáo T và bị hại Nguyễn Văn H1 được xác định là 600.000 đồng) và 01 máy mài cầm tay không rõ nhãn hiệu (ông H1 xác định không yêu cầu xem xét). Tổng giá trị tài sản là 4.500.000 đồng.

Đối với các tài sản trộm cắp được thì các bị cáo mang đến các tiệm điện thoại và tiệm điện trên địa bàn thành phố Rạch Giá bán được tổng cộng 4.400.000 đồng; trong đó bị cáo T chia cho bị cáo T1 được 800.000 đồng, đối với số tiền bị cáo T khai chia cho Hoàng Minh N thì không có cơ sở chứng minh, và tại phiên tòa bị cáo T đồng ý xác định phần tiền mà bị cáo có được từ việc bán các tài sản trộm cắp tổng cộng là 3.600.000 đồng.

Lời khai nhận của các bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Đối chiếu hành vi trên của các bị cáo với quy định của Bộ luật hình sự đã đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Bùi Thanh T và bị cáo Huỳnh Công T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố các bị cáo với tội danh và Điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất và mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, tài sản thiệt hại không lớn nhưng gây nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút lấy trộm tài sản của họ. Các bị cáo người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị; nhưng vì lười lao động chân chính, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn gây mất an ninh xã hội, gây hoang mang tư tưởng cho người dân. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo T và bị cáo T1 một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả các bị các đã gây ra, để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tính phòng ngừa chung.

Kết quả điều tra cũng như qua xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét vai trò thực hiện tội phạm của từng bị cáo như sau:

Trong vụ trộm cắp tài sản ngày 13/6/2018, bị cáo T và bị cáo T1 cùng thống nhất ý định, cùng nhau trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và đem đi tiêu thụ, chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.

Ngoài ra, bị cáo T còn thực hiện 01 vụ trộm cùng Hoàng Minh N và tự mình thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản. Do đó, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo T là nghiêm trọng hơn, với ý thức coi thường pháp luật, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T1 chịu trách nhiệm hình sự ở mức thấp hơn so với bị cáo T, do chỉ thực hiện 01 lần hành vi phạm tội cùng bị cáo T.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng:

Đối với bị cáo T: Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi trộm cắp tài sản và mỗi lần thực hiện hành vi đều đạt cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản; nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo T có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 201/2018/HS-ST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, hiện chưa chấp hành hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo T1: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo T và bị cáo T1 thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đối với bị cáo T trong quá trình điều tra đã tự nguyện khai báo ra các hành vi phạm tội trước đó nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

- Xét về nhân thân:

Đối với bị cáo T: Bản án số 01/HSST ngày 18/11/2002, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong và xóa án tích; Bản án số 2063/2005/HSPT ngày 19/12/2005 Tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong và xóa án tích.

Đối với bị cáo T1: Có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 26/2018/HS-ST ngày 05/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, chấp hành xong hình phạt, hiện chưa xóa án tích. Quyết định số 1009/QĐ-UB ngày 16/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 09/7/2008 Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định số 270/QĐ-UBND ngày 05/02/2013 Ủy ban nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hiện đã xóa tiền sự.

Cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ và 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo T1 có 01 tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích nêu trên, sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt các bị cáo hình phạt tù có thời hạn, giam giữ các bị cáo trong một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo; trong đó mức án áp dụng đối với bị cáo T phải nghiêm khắc và cao hơn bị cáo T1 là thỏa đáng.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra những người bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị trộm cắp, ngoài ra không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Ngày 25 tháng 01 năm 2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả: 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GSB 16 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu BOSCH GBM 6 RE màu xanh nước biển, 01 máy khoan nhãn hiệu DEWALT DW 515 màu đỏ, 01 máy mài nhãn hiệu BOSCH GWS 6-100 màu xanh nước biển, 01 mô tơ có gắn máy nén khí nhãn hiệu JETMAN màu xanh, cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H1.

 Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xử lý.

[7] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo T1 giao nộp 800.000 đồng; buộc bị cáo T giao nộp 3.600.000 đồng; là tiền do các bị cáo phạm tội mà có để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Thanh T và Huỳnh Công T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T và bị cáo Huỳnh Công T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm r điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Bản án số 201/2018/HS-ST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt bị cáo Bùi Thanh T 01 năm tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng đến nay bị cáo chưa chấp hành.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Thanh T phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 09 tháng tù, nhưng được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2018 đến ngày 05/7/2018.

Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ: Ngày 05/01/2019.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công T1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ: Ngày 10/4/2019.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Huỳnh Công T1 giao nộp 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng); buộc bị cáo Bùi Thanh T giao nộp 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng); là tiền do các bị cáo phạm tội mà có để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí: Bị cáo Bùi Thanh T và Huỳnh Công T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

 4. Quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày; Những người có mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án; Những người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


53
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 85/2019/HS-ST ngày 31/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:85/2019/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:31/05/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về