Bản án 85/2017/HSST ngày 08/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 85/2017/HSST NGÀY 08/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 08 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2017/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2017/HSST-QĐ ngày 24/11/2017, đối với bị cáo:

+ Vũ T Ng - sinh năm 1965; nơi ĐKHKTT: Thôn TC, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Vũ Văn L (đã chết) và bà Phạm Thị K; vợ Lê Thị H và 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2017 đến ngày 27/10/2017 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện TL, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Công T - sinh năm 1981; nơi ĐKHKTT: Xóm 8, xã QH, huyện QL, tỉnh Nghệ An, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/10/2017, tại đường làng thôn Thanh Khê, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam; trong lúc tuần tra, tổ công tác của Công an huyện TL phối hợp với Ban Công an xã TH phát hiện Vũ T Ng có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra phát hiện Vũ T Ng tàng trữ 02 gói được gói bằng giấy màu trắng bên trong có chất bột màu trắng dạng cục (Ng khai là Heroine).

Tại Cơ quan điều tra, Vũ T Ng khai nhận: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày24/10/2017, Ng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37P6-1254 từ nhà đi chữa bệnh cho một số người dân trên địa bàn huyện TL, tỉnh Hà Nam. Trên đường đi, Ng rẽ vào quán ăn sáng ven đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Thanh Khê, xã TH, huyện TL. Do có đông khách, Ng ngồi chờ tại bàn uống nước của quán thì có một thanh niên không quen biết đến nói với Ng: "Ông có làm tí không?". Ng hiểu ý người này biết Ng nghiện ma túy nên rủ sử dụng ma túy, Ng nói: "Đông người thế này, làm tí cái gì". Người thanh niên nói: "Ông đưa tôi trăm rưỡi, tôi đưa ông hai cái", Ng hiểu người thanh niên bán cho mình 02 gói ma túy với giá 150.000 đồng. Ng đưa cho người nam giới một tờ tiền mệnh giá100.000 đồng, thì được người này đưa lại cho Ng 02 gói ma túy được gói bằng giấy màu trắng. Ng cầm 02 gói ma túy và bỏ vào túi quần đang mặc rồi ra khỏiquán, điều khiển xe mô tô 37P6-1254 đi vào đường làng thôn Thanh Khê thì gặptổ công tác của Công an huyện TL kiểm tra bắt giữ.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu tại túi quần trước bên trái của Vũ T Ng 02 gói được gói bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục; được niêm phong trong phong bì ký hiệu là QT01; 01 điện thoại di động Nokia 225 màu đen, bên trong có lắp sim điện thoại mạng Viettel số tH bao 0983039869 và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có một mảnh giấy bạc màu trắng hình chữ nhật, bên trên bề mặt mảnh giấy bạc có các đốm màu đen không rõ hình;

- Thu giữ tại túi quần sau bên phải của Vũ T Ng số tiền 400.000 đồng;

- Thu 01 xe mô tô Yamaha nhãn hiệu Novo biển kiểm soát 37P6-1254, sốkhung: 607Y - 050608, số máy: B56 - 050608.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ T Ng tại thôn TC, xã TT, huyện TL, tỉnhHà Nam, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

- Ngày 25/10/2017, chị Lê Thị H là vợ của bị cáo giao nộp 01 Đăng ký mô tô, xe máy số 001709 mang tên Lê Công T.

Tại bản kết luận giám định số 190/PC54-MT ngày 26/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

"Cht bột màu trắng dạng cục trong mẫu ký hiệu QT01 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, trọng lượng: 0,246g (Không phẩy hai trăm bốn mươi sáu gam). Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ."

Bản cáo trạng số 86/KSĐT ngày 13/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Vũ T Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ T Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14

- Xử phạt Vũ T Ng từ 14 đến 18 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy lượng Heroine hoàn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; trả lại cho Vũ T Ng số tiền 400.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia 225 màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại mạng Viettel có số tH bao 0983039869; trả lại cho anh Lê Công T 01 xe mô tô Yamaha nhãn hiệu Nouvo, BKS: 37P6-1254.

Bị cáo Ng thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Công T đề nghị trả lại cho anh 01 xe mô tô Yamaha nhãn hiệu Nouvo, BKS: 37P6-1254.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo Vũ T Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/10/2017, tại đường làng thôn Thanh Khê, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam, Công an huyện TL bắt quả tang Vũ T Ng có hành vi tàng trữ 0,246g (Không phẩy hai trăm bốn mươi sáu gam) Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Hành vi tàng trữ trái phép Heroine của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố Vũ T Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hốicải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo có bố đẻ là liệt sỹ, mẹ đẻ được thưởng Huy chương kháng chiến; căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ "Người phạm tội là con của người có công với cách mạng" quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, có bà nội là Bà mẹ Việt nam anh hùng, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì có khung hình phạt nhẹ hơn so với khung hình phạt quy định tại khoản1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017  của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng quy định này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Mặt khác, bị cáo là con liệt sĩ, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên miễn phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về nguồn gốc số Heroine thu giữ: Theo lời khai của bị cáo xác định đã mua của một người nam giới lạ mặt với số tiền 100.000 đồng. Bản thân Ng không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Ngoài ra, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác ; vì vậy Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL không có căn cứ để xác minh, làm rõ xử lý đối tượng đã bán ma túy cho Ng.

[5] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô Yamaha nhãn hiệu Nouvo, BKS: 37P6-1254: Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của anh Lê Công T (cháu rể của Ng) đã cho Ng mượn sử dụng đi lại 02 năm trước, anh T không biết Ngsử dụng đi mua ma túy; vì vậy cần trả lại cho anh Lê Công T.

Các vật chứng còn lại, áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự và Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý, cụ thể như sau:

+ Số Heroine hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có mảnh giấy bạc, hiện không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy;

+ Số tiền 400.000 đồng và 01 điện thoại Nokia 225 màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại mạng Viettel có số tH bao 0983039869: Đây là tài sản hợp pháp của Vũ T Ng, không liên quan đến tội phạm, vì vậy cần trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ T Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015,

+ Xử phạt bị cáo Vũ T Ng 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là 24/10/2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự và Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự,

+ Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 190/PC54-MT và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có một mảnh giấy bạc màu trắng.

+ Trả lại cho bị cáo Vũ T Ng số tiền 400.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia 225 màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại mạng Viettel có số tH bao 0983039869.

+ Trả lại cho anh Lê Công T 01 xe mô tô Yamaha nhãn hiệu Nouvo,BKS: 37P6-1254 cùng Đăng ký mô tô, xe máy số 001709.

(Chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày15/11/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL. Số tiền theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử số 48 lập ngày 13/11/2017 tại Kho bạc Nhà nước huyện TL).

3. Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội - Buộc bị cáo Vũ T Ng phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.


126
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về