Bản án 84/2018/HSST ngày 26/04/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ- TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 84/2018/HSST NGÀY 26/04/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 168/2018/HSST ngày 28/ 3/ 2018 đối với bị cáo:

Lê Văn T - Sinh 1987; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: LĐTD; Trình độ văn hoá: 0; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn D và bà: Lê Thị M; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn” Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngưi bị hại: Ông Đỗ Viết B - Sinh 1958 ( đã chết)

Ngưi đại diện hợp pháp của người bị hại: ( Vắng mặt tại phiên tòa) Bà Hoàng Thị B2 – sinh 1961 ( Là vợ người bị hại)

Trú tại: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h 30 phút ngày 18/10/2017, Lê Văn T không có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển xe mô tô BKS: 36B4 – 05394 đi trên đường Quốc lộ B theo hướng Bắc – Nam. Khi đi đến khu vực trước cổng trụ sở sư đoàn B thuộc địa phận xã Đ, thành phố T, T không đi đúng làn đường, lấn phần đường ngược chiều, nên mặt lăn bên trái lốp trước mô tô BKS: 36B4 – 05394 do T điều khiển đó đâm va với mặt ngoài đầu mút dưới cánh yếm bên trái xe mô tô BKS: 36P5 – 5166 do ông Đỗ Viết B đang đi ngược chiều. Hậu quả ông Đỗ Viết B bị thương nặng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện H, bệnh viện Đa Khoa tỉnh T và Bệnh viện V, đến 02h 14 phút ngày 21/11/2017 thì ông B tử vong do đa chấn thương.

Sau khi tai nạn xảy ra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đó phối hợp với các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, phương tiện và khám nghiệm tử thi thể hiện như sau:

*Về hiện trường:

Vị trí xảy ra tai nạn là khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Quốc lộ B cũ và quốc lộ B mới thuộc địa phận xã Đ, thành phố T, điều kiện thời tiết râm mát.

Đường quốc lộ B cũ ( vị trí xảy ra vụ tai nạn giao thông) hướng đi từ thành phố T về UBND xã Đ rộng 10m, ở giữa có vạch sơn đứt đoạn màu vàng phân chia phần đường. Vị trí xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường giành cho 02 chiều phương tiện lưu thông chung.

Lấy đường thẳng giả định từ cổng phía Nam trụ sở sư đoàn B thuộc xã Đ, thành phố T cắt ngang mặt đường quốc lộ B nơi xảy ra tai nạn giao thông làm điểm mốc.

Lấy mép đường bên phải đường quốc lộ B đoạn xảy ra tai nạn giao thông theo hướng đi từ thành phố T về UBND xã Đ làm mép chuẩn.

Quá trình khám nghiệm xác định vị trí thứ tự nạn nhân, phương tiện, tang vật có dấu vết như sau:

(1)Vết tỳ kích thước ( 3,3 x 0,05) m đầu phía Bắc của Vết cách điểm mốc về phía Bắc là 9m, cách mép chuẩn là 4m, đầu phía Nam của Vết cách mép chuẩn là 4m, cách tâm trục bánh trước xe mô tô 36 P5 – 5166 là 2m.

(2) Xe mô tô 36B4 – 05394 đổ nghiêng bên phải, đầu xe quay hướng Nam, đuôi xe quay hướng Bắc. Tâm trục bánh trước cách mép chuẩn là 5m, Tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 5m.

(3) Xe mô tô 36 P5 – 5166 đổ nghiêng bên phải đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. Tâm trục bánh trước cách mép chuẩn là 4m, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 2,4m.

(4) Vết cà kích thước ( 4,4 x 0,01)m. Vết có chiều Nam - Bắc đầu vết cách mép chuẩn là 4,2 m, cách tâm trục bánh sau xe mô tô 36B4 – 05394 là 0,7m. Cuối vết tương ứng với vị trí đầu mút tay nắm bên phải xe mô tô 36 P5 – 5166.

(5) Đám máu kích thước ( 0,5 x 0,3) m. Tâm vết cách mép chuẩn là 2,1m cách tâm trục bánh sau xe mô tô 36 P5 – 5166 là 1,1m.

* Về phương tiện: Ngày 10/11/2017, phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có kết luận giám định kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt lăn bên trái lốp trước tương ứng với hàng chữ “ INOUE” xe mô tô 36 P5 – 5166 ( ảnh 5,6) với mặt ngoài đầu mút dưới cánh yếm bên trái xe mô tô 36B4 – 05394 ( ảnh 18,19).

- Tại thời điểm va chạm hai phương tiện đang chuyển động ngược chiều.

- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà số 4 được thể hiện trong sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường thuộc khoảng giữa đường.

- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn.

* Về khám nghiệm tử thi:

Tại kết luận giám định pháp y tử thi số 2446/GĐPY - PC 54 ngày 27/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa xác định trên cơ thể nạn nhân Đỗ Viết B có các dấu vết như sau:

- Vết mổ sọ não đã được khâu kín chỉ trên vành tai trái qua vùng chẩm đỉnh sang vùng giữa trán.

- Các vết xây xước da, bầm tụ máu, nền vết khô tại: Đầu, Lưng, ngực, chân phải.

- Vết loét tổ chức da tại vị trí xương cụt,nền vết khô.

- Vỡ C7

- Gẫy xương sườn 2,3,4 phải, gẫy cung bên xương sườn 3 → 7 bên phải, góy xương đòn phải.

- Vỡ xương đỉnh hai bên.

- Vỡ xương thái dương lan vào xương đá phải

- Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng trán đỉnh trái

- Khuyết xương hộp sọ vùng trán đỉnh trái, khuyết màng cứng vùng trán đỉnh trái.

- Chảy máu rải rác màng mền bán cầu đại não trái

- Phù não

- Kết luận nguyên nhân chết của ông Đỗ Viết B: Đa chấn thương

Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đó trả lại xe mô tô 36B4 – 05394 cho Lê Văn T là chủ sở hữu và mô tô 36 P5 – 5166 cho chị Hoàng Thị B2 ( Vợ nạn nhân).

* Về dân sự: Gia đình Lê Văn T và đại diện gia đình nạn nhân đó thống nhất, thỏa thuận bồi thường cho gia đình ông Đỗ Viết B 90.000.000đ, bà Hoàng Thị B2 là người đại diện của gia đình người bị hại không yêu cầu gì thêm về phần bồi thường và có đơn xin miễn giảm truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Văn T đó khai nhận hành vi phạm tội của mình, hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 87/ CT- VKS-TPTH ngày 26/ 3/ 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố Lê Văn T về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 202 của BLHS 1999.

Tại phiên tòa đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm a Khoản 2 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1, 2 Điều 46; Khoản 1,2 Điều 60 của BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo là 36 tháng tù, cho hưởng án treo.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà bị cáo khai nhận: Khoảng 13h 30 phút ngày 18/10/2017, bị cáo không có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển xe mô tô BKS: 36B4 – 05394 đi trên đường Quốc lộ B theo hướng Bắc – Nam ( Từ phía cầu cáo đi xuống phía hướng thành phố Thanh Hóa). Khi đi đến khu vực trước cổng trụ sở sư đoàn B thuộc địa phận xã Đ, thành phố T, do bị cáo không đi đúng làn đường, lấn phần đường ngược chiều, không chú ý quan sát, nên mặt lăn bên trái lốp trước mô tô BKS: 36B4 – 05394 do bị cáo điều khiển đó đâm va với mặt ngoài đầu mút dưới cánh yếm bên trái xe mô tô BKS: 36P5 – 5166 do ông Đỗ Viết B đang đi ngược chiều. Hậu quả ông Đỗ Viết B bị thương nặng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện H, bệnh viện Đa Khoa tỉnh T và Bệnh viện V, đến 02h 14 phút ngày 21/11/2017 thì ông B tử vong do đa chấn thương.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tội danh và khung hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 202 của BLHS (Với tình tiết định khung “Không có bằng lái”. Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 202 của BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Hiện nay tình hình trật tự an toàn giao thông có nhiều diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe mà nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu ý thức của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông. Trong vụ án này Bị cáo Lê Văn T không có giấy phép lái xe hợp lệ, khi điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng bị cáo đã đi lấn phần đường sang bên trái chiều đi của mình là vi phạm Điều 9 Luật giao thông đường bộ, gây nên cái chết cho ông Đỗ Viết B. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

Tuy nhiên quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; Tự nguyện bồi thường; Gia đình người bị hại xin miễn giảm hình phạt cho bị cáo. Nên khi xem xét hình phạt đối với bị cáo cũng cần áp dụng Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo là người không biết chữ, phạm tội do lỗi vô ý, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; Có nơi cư trú rõ ràng và hiện nay bị cáo chưa có vợ sống cùng bố, mẹ thường xuyên ốm đau, nên bị cáo là lao động chính trong gia đình ( đó có xác nhận). Do đó việc cách ly Bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội là không cần thiết mà nên áp dụng Khoản 1,2 Điều 60 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương; Tạo điều kiện cho bị cáo lao động để nuôi sống gia đình cũng đủ sức giáo dục Bị cáo và phòng ngừa chung. Thời gian thử thách được tính theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 01/2013 ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong và đại diện gia đình người bị hại không yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên công nhận phần dân sự đã được giải quyết xong.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điểm a Khoản 2 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1, 2 Điều 46; Khoản 1,2 Điều 60 của Bộ luật hình sự 1999. Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 ( Năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Văn T cho UBND xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong .

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


85
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về