Bản án 83/2018/HS-ST ngày 19/12/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BB - TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 83/2018/HS-ST NGÀY 19/12/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 19 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BB, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2018/TLHS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: MB (tên gọi khác: Tuấn G), sinh ngày 10/12/1996, tại tỉnh Bình Thuận.

Hộ khẩu thường trú: Thôn Kà L, xã S, huyện BB, tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú hiện nay: Thôn Kà L, xã S, huyện BB tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp:Làm nông ;trình độ văn hóa: lớp 8/12; dân tộc: Rắc lây; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: (không rõ), con bà Trần Thị L, sinh năm 1966; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bỏ trốn, bắt theo lệnh truy nã và tạm giam từ ngày 03/9/2018 đến nay (có mặt tại phiên tòa)

-Người bị hại: Anh Doãn Văn Đ, sinh năm 1984 (có mặt)

Cư trú: Thôn Tà M, xã S, huyện BB, tỉnh Bình Thuận.

-Người làm chứng:1/ Mang X, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Kà L, xã S, huyện BB, tỉnh Bình Thuận

2/ K’V, sinh năm 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Kà L, xã S, huyện BB, tỉnh Bình Thuận

3/ Tưởng Văn G, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Kà L, xã S, huyện BB, Bình Thuận

4/ Ức Xuân Kh, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Tà M, xã S, huyện BB, tỉnh Bình Thuận.

5/ Ức Xuân Th, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Tà M, xã S, huyện BB, tỉnh Bình Thuận.

6/ Mai Văn H, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: 04, xã Phan L, huyện BB, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 08/6/2017, MB, Doãn Văn Đ, Ức Xuân Kh, Ức Xuân Th, Mang X, K, v, Tưởng Văn G, Mai Văn H hát karaoke ở quán Phương Tr sau đó ra tính tiền thì Doãn Văn Đ nghe MB và Tưởng Văn G cải nhau nên Đ can ngăn và nói “anh em trong làng, trong xóm đánh nhau làm gì”  MB nói “chuyện của anh em tao tự giải quyết, mày xía vô làm gì” nên Doãn Văn Đ không nói gì và rủ cả nhóm lên cầu Mac T nhậu tiếp và mở loa kẹo kéo nghe nhạc đến khoảng 22 giờ. Đang nhậu thì hết thuốc lá nên MB lấy xe mô tô biển số 86B2 272.91 (do bà Trần Thị L là dì của bị cáo sở hữu) chở Mang X đi mua thuốc lá và trên đường chở Mang X đi MB nói với Mang X “chắc tí nữa anh với Kỳ Tôm (Doãn Văn Đ) có chuyện”, Mang X bảo “ Đó là chuyện của mấy anh em không biết”. MB chở Mang X về nhà bà L bảo X quay đầu xe chờ MB vào nhà lấy thuốc nhưng MB về nhà bà L lấy 01 cây dao, cán gỗ dài 20cm, lưỡi sắc dài 40cm giấu trong quần bảo X chở đi tới chổ nhậu. Đến nơi Mang X vào ngồi nhậu, MB đứng ngoài 1 phút vô sau đến phía sau bên phải chổ Đ ngồi nhậu cách 01m dùng dao chém 01 cái theo hướng từ trên xuống từ phải qua trái trúng vào vùng thái dương bên phải của Doãn Văn Đ, Đ bung người đứng dậy quay mặt qua đối diện với MB, MB chém cái thứ hai trúng vào cánh tay trái của Đ nhưng do Đ mặc áo khoác dày nên không gây thương tích, MB tiếp tục nhá lên chém cái thứ 3 thì Ức Xuân Kh vào can ngăn nên không trúng.Đ bỏ chạy xuống cầu Mac T thì bị té úp mặt xuống đất.MB rượt đuổi theo chém từ trên xuống vào người của Đ 2 cái nữa nhưng chỉ trúng 01 cái vào mua bàn chân phải. Lúc này Th và Kh chạy theo đến kéo MB ra ôm lại, Đ chạy thoát vào nhà dân được người dân đưa đi cấp cứu tại trạm y tế xã S đến sáng hôm sau chuyển bệnh viện tỉnh Lâm Đồng điều trị từ ngày 09/6/2017 đến ngày 18/6/2017 tra viện.

Kết luận giám định thương tích số 406/2017/TgT ngày 22/9/2017 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận thương tích của Doãn Văn Đ gồm các vết thương sẹo phần mềm vùng má – thái dương phải, ảnh hưởng thẩm mỹ, do vật sắc gây ra theo chiều hướng từ phải qua trái.Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%.

Vết sẹo phần mềm mu bàn chân phải, do vật sắc tác động theo chiều hướng từ trên xuống, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.

Tại phiên tòa bị hại Doãn Văn Đ yêu cầu xử lý đúng pháp luật đối với bị cáo Mang Bảy và yêu cầu bị cáo MB bồi thường chi phí điều trị và các chi phí khác 13.332.600đ gồm: Chi phí điều trị là 1.332.600đ và tiền công người bị thiệt hại mất thu nhập 60 ngày x 200.000đ/ngày= 12.000.000đ.

Cáo trạng số 67/QĐ/KSĐT-VKS-HS ngày 06/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo MB về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa đại diện VKS thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố MB theo tội danh “Cố ý gây thương tích” tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và áp dụng điểm s,khoản 1, khoản 2 Điều 51 do bị cáo thành khẩn khai báo, chưa có tiền án, tiền sự; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo MB từ 2 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 3 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

-Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các Điều 585, Điều 586, Điều 590 và Điều 357 Bộ luật dân sự đề nghị buộc bị cáo Mang Bảy bồi thường thiệt hại cho bị hại Doãn Văn Đ 13.332.600đ.

Về xử lý vật chứng: Cây dao bị cáo chém bị hại và cái áo dính máu không thu được tang vật vụ án nên không xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện BB, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện BB trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi,Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng pháp luật.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, MB đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu và đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị hại Doãn Văn Đ tại phiên tòa, lời khai người làm chứng Ức Xuân Kh, Ức Xuân Th, Mang X tại các BL 96,103-105,113-115, bản kết luận điều tra số 68 ngày 18/10/2018, kết luận giám định số 406/2017/TgT ngày 22/9/2017 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo MB dùng dao dài 60cm chém 05 nhát vào người bị hại Doãn Văn Đ vào lúc khoảng 22 giờ ngày 08/6/2017 gây thương tích vùng má-thái dương phải và phần mềm mu bàn chân phải của bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể 15% đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được qui định tại điểm a, i khoản 1, khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017QH14 nay áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên Cáo trạng số 67/VKS-BB ngày 06/11/2018 truy tố bị cáo tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật. 

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được cây dao (mã tấu) là hung khí nguy hiểm nếu tác động trái pháp luật vào thân thể của Doãn Văn Đ sẽ gây tổn hại sức khỏe cho bị hại Đ nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp do bị cáo xem thường pháp luật và sức khỏe con người trong khi giữa bị cáo và bị hại cùng ăn nhậu với nhau, chỉ vì do bị hại can ngăn bị cáo cãi nhau với bạn mà bị cáo có ý định chém bị hại nên dùng cây mã tấu chém bị hại nhiều nhát trong lúc bị hại đã bị thương, được Kh và Th can ngăn nhưng bị cáo tiếp tục rượt đuổi theo chém tiếp, chứng tỏ bị thực hiện tội phạm với hành động quyết tâm cao, thể hiện tính côn đồ. Đây là tình tiết định khung tăng nặng qui định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo MB theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đồi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ,đúng pháp luật.

[4]Sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo không bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại chứng tỏ bị cáo không ăn năn hối cải, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Sau khi gây thương tích cho bị hại đã bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần tuyên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung tại địa phương.

[5]Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo MB đã thành khẩn khai báo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6]Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố áp dụng tính tiết giảm nhẹ cho bị cáo và đề nghị mức hình phạt cho bị cáo MB mức án từ 2 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 3 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng biện pháp tư pháp đề nghị HĐXX buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại Doãn Văn Đ 13.332.600đ, không đề nghị xử lý vật chứng do không thu hồi được. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nghĩ nên chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Doãn Văn Đ yêu cầu bị cáo MB bồi thường tiền chi phí điều trị và chi phí khác 13.332.600đ, không yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần, tiền tàu xe và tiền công người nuôi bệnh. Xét thấy, yêu cầu của bị hại là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, phù hợp qui định pháp luật tại các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 BLDS và Điều 48 BLHS nên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 13.332.600đ. (Mười ba triệu ba trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm đồng)

[8] Về xử lý tang vật chứng vụ án: 01(Một) cây dao tự tạo dài 60cm và chiếc áo dính máu không thu hồi được nên không xem xét xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo MB phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a,c Điều 23; Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn,giảm,thu, nộp,quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố: Bị cáo MB phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Tuyên phạt: Bị cáo MB 03 (Ba) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2018.

Áp dụng: Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều Điều 584; Điều 585; Điều 586;Điều 590 và Điều 357 Bộ luật dân sự;

Buộc: Bị cáo MB phải bồi thường cho bị hại Doãn Văn Đ số tiền 13.332.600đ (Mười ba triệu ba trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm đồng)

Áp dụng: Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a,c Điều 23,Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn,giảm,thu, nộp,quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Bị cáo MB phải nộp 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 666.600đ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án thì phải chịu thêm khoản lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo qui định tại Điều 357 BLDS.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

104
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2018/HS-ST ngày 19/12/2018 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:83/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Bình - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/12/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về