Bản án 83/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

BẢN ÁN 83/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2018VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 210/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2018/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lý Thị Thanh D, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: Số 65, Đường TC, khu phố NĐ, phường NT, thành phố TN, tỉnh TN (có mặt).

Bị đơn: Anh Cao Minh H, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: Số C37/5, Đường TC, khu phố NL, phường NT, thành phố TN, tỉnh TN (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/4/2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lý Thị Thanh D trình bày:

Về hôn nhân: Chị D, anh H tự nguyện chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BM, thành phố TN, tỉnh TN vào năm 2013. Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, mâu thuẩn phát sinh từ năm 2015, do anh H không lo làm ăn, ghen tuông vô cớ. Tháng 10/2016 chị D nộp đơn xin ly hôn với anh H nhưng Tòa án nhân dân thành phố TN không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, chị D không kháng cáo. Từ khi Tòa án không cho ly hôn đến nay chị D và anh H cũng không hàn gắn tình cảm được. Nay chị D yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Cao Minh K, sinh ngày 19/11/2010. Hiện con chung đang sống cùng chị D. Chị D xin được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Cao Minh H đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh H không đến tham gia tố tụng tại Tòa nên không thể hiện được ý kiến của anh H

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.

+ Về nội dung: Chị D đã làm đơn xin ly hôn với anh H vào năm 2016, nay anh, chị vẫn sống ly thân, anh H và chị D vẫn không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của chị D. Về con chung: Hiện cháu K đang sống với chị D, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ nên giao cháu K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh H được Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt nên Tòa tiến hành xét xử vắng mặt anh Hiếu theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Lý Thị Thanh D có đơn yêu cầu ly hôn với anh Cao Minh H; anh H có nơi cư trú tại địa chỉ số C37/5 đường TC, khu phố NL, phường NT, thành phố TN, tỉnh TN; Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.

[2] Về hôn nhân: Chị D, anh H chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NT, thành phố TN, tỉnh TN vào năm 2013, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Do có mâu thuẩn với nhau, chị D đã làm đơn xin ly hôn với anh H vào tháng 10/2016 tại Tòa án nhân dân thành phố TN. Tại bản án số 10/2017/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân thành phố TN không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D, chị D không kháng cáo. Tuy nhiên từ khi Tòa án cho đoàn tụ nhưng giữa chị D và anh H cũng không chung sống với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án đã cho anh H cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H vẫn không có biện pháp hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ, cho thấy tình trạng hôn nhân của chị D, anh H ngày càng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị D yêu cầu ly hôn với anh H là có cơ sở để chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị D, anh H có 01 con chung tên Cao Minh K, sinh năm 2010, hiện cháu K đang sống cùng chị D. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu K còn nhỏ, hiện đang sống với chị D và chị D có yêu cầu được nuôi cháu K, còn anh H không tham gia tố tụng tại tòa nên không thể hiện ý kiến của anh H nên giao cháu khang cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục là phù hợp. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh H được quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở theo quy định tại các Điều 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN phù hợp với nhận định của Tòa án nên có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị D là nguyên đơn nên phải phải chịu án phí là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 54, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Lý Thị Thanh D đối với anh Cao Minh H.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Cao Minh K, sinh năm 2010 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên, tự lao động sinh sống được. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh Hiếu cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm:

Chị D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị D đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0005347 ngày 13/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị D đã nộp đủ án phí.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được ban án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi đương sự cư trú.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

117
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:83/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về