Bản án 83/2017/HSST ngày 09/06/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 83/2017/HSST NGÀY 09/06/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 

Ngày 09 tháng 6 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La,tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 90/2017/HSST ngày 08 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:

Dương Văn S- Sinh ngày 13/8/1987, tại Văn Lâm, Hưng Yên; Nơi ĐKHKTT: Tổ 2, phường T, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Dương Văn T - Sinh năm 1957 (đã chết), con bà Nguyễn Thị M - Sinh năm 1958; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2017, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Khánh H - Sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 9, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Dương Văn S bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 21/01/2017, Tổ công tác Công an phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang Dương Văn S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có cục bột màu trắng (S tự giác lấy trong túi áo khoác đang mặc ra giao nộp) khai là hêrôin cất giữ để sử dụng.

Tạm giữ: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda ABLABE, BKS 26B1 - 29610; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen trắng.

Biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định ngày 21/01/2017, cân tịnh có trọng lượng 0,12 gam, ký hiệu DS1 gửi giám định.

Kết luận giám định vật chứng số: 218/KLMT ngày 24/01/2017 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La: Mẫu gửi giám định ký hiệu DS1 là chất ma túy; Loại chất hêrôin, trọng lượng của mẫu gửi giám định là DS1 = 0,12 gam.

Quá trình điều tra bị cáo Dương Văn S khai nhận:

Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 21/01/2017 S điều khiển xe máy Honda ABLABE, BKS 26B1 - 29610 đến trung tâm phòng chống HIV\AIDS thuộc bản Cọ, phường Chiềng An, thành phố Sơn La để uống thuốc Methadone, sau đó S điều khiển xe máy lên khu vực tổ 8, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng, tại đây S mua được 01 gói hêrôin với giá 200.000 đồng, của một người đàn ông không quen biết, S cất gói ma túy vào túi áo bên phải đang mặc trên người rồi điều khiển xe máy đến khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số 43/KSĐT ngày 08/04/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố: Bị cáo Dương Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Dương Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH, điểm a, b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Dương Văn S từ 20 đến 26 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm b, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc vỏ phong bì đã niêm phong ban đầu gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ.

Trả lại anh Nguyễn Khánh H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda ABLADE, BKS 26B1 - 296.10.

Trả lại bị cáo Dương Văn S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Đối với người đàn ông bán ma túy cho S, quá trình xác minh điều tra không xác định được đối tượng do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn S khai nhận: Ngày 21/01/2017, khi đang thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói hêrôin có trọng lươ ng 0,12 trong người tại khu vực bản Chậu, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét thấy tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/01/2017; Biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng vật chứng thu giữ; Kết luận giám định vật chứng số: 218/KLMT ngày 24/01/2017 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La.

Từ các căn cứ trên xét thấy hành vi tàng trữ trái phép 0,12 gam hêrôin trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Dương Văn S đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH, điểm a, b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 theo hướng có lợi đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nghiện chất ma túy; bị cáo Dương Văn S tại bản án số: 84/2012/HSST ngày 17/4/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập do đó không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với vật chứng gồm 01 chiếc vỏ phong bì đã niêm phong ban đầu gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự, điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda ABLADE, BKS 26B1 - 296.10, là tài sản thuộc sở hữu của anh Nguyễn Khánh H, anh H cho bị cáo S mượn, không biết việc S sử dụng vào việc phạm tội, do đó cần trả lại tài sản cho chủ sở hữu anh Nguyễn Khánh H, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó cần trả lại cho bị cáo, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với đối tượng bán ma túy cho S, ngoài lời khai của S không có căn cứ nào khác, do đó buộc S phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với số ma túy bị thu giữ

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý

1.Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999; điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH, điểm a, b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13; khoản 3 Điều 7; Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Dương Văn S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/01/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự, điểm b, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc vỏ phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong gồm: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ.

Trả lại anh Nguyễn Khánh H 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda ABLADE màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B1-296.10, số khung RLHJF2706BY210238, không kiểm tra được số máy, không có gương bên phải, đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Dương Văn S 01 chiếc điện thoại di động màu đen trắng, mặt trước và sau có chữ Nokia, bàn phím bị mờ, số Imei bốn số cuối 994/9, qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/5/2017 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3.Về án phí: Áp dụng khoản 1; 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản  1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Dương Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Dương Văn S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Khánh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/6/2017.


142
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về