Bản án 83/2017/HSST ngày 07/11/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 83/2017/HSST NGÀY 07/11/2017 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 11 năm 2017, tại Ủy ban nhân dân phường V, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2017/HSST ngày 08-9-2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2017/HSST-QĐ ngày 23-10-2017 đối với bị cáo:

DƯƠNG TẤN C - sinh năm: 1994 tại Ninh Thuận. Trú: Khu phố 8, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Dương Tấn T, sinh năm: 1973 và bà: Ngô Thị Thanh H, sinh năm 1979; Tiền án: không ; Tiền sự: không; Tạm giam: ngày 30-6-2017 tại nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang- Tháp Chàm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Võ Ngọc H - sinh năm 1995. Trú: P. L – T. P- Bình Thuận. (xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2016, Dương Tấn C lập tài khoản Zalo tên “Thuy Nu UU”, lấy hình ảnh của một người con gái có Tài khoản Facebook là 'Tiên Trương” nhà ở Văn Hải để làm ảnh đại diện và đăng ảnh lên tra ng cá nhân của mình, mục đích cho những người nam giới tin tài khoản của C là của nữ để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khoảng giữa tháng 3/2017, bằng việc sử dụng Zalo nói trên, C quen anh Võ Ngọc H và giới thiệu mình tên là Thúy. Quá trình quen biết C (tự xưng là Thúy) nhiều lần nhờ H nạp thẻ cào điện thoại cho C , đồng thời C cung cấp số điện thoại 0899.988.113 cho H để H liên lạc. Khi H gọi điện vào số điện thoại nói trên thì C đưa cho em gái của C là Dương Thị Mỹ D nghe. C dặn D chỉ nói vài câu rồi tắt. D nghĩ C trêu chọc người khác nên đồng ý làm theo và không biết việc C lừa đảo chiếm đoạt tài sản của H. Sau một thời gian lừa dối giả là T nói chuyện qua Zalo và điện thoại với H, C nhận thấy H bắt đầu tin tưởng và có tình cảm với mình nên C nói dối H là gia đình khó khăn và nhờ H giúp đỡ về tiền bạc. H tưởng C là Thúy nên nhận lời giúp đỡ. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 3/2017 đến tháng 5/2017, H đã 05 lần chuyển tiền cho C qua số TK: 0811000031394 của Ngân hàng Viet combank (do bà Ngô Thị Thanh H đứng tên chủ thẻ) với tổng số tiền 25.500.000 đồng. Ngoài ra, trong khoảng thời gian này H gửi cho C 02 vòng đeo tay nữ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu vàng đồng. Số tiền H gửi cho C, C sử dụng mua 01 nhẫn vàng 24K với giá 8.000.000 đồng, 01 lắc vàn g 18K với giá 5.000.000 đồng, 01 điện thoại di động kiểu dáng giả Iphon e 6 với giá 2.500.000 đồng, C đưa cho bà H 2.000.000 đồng để tiêu xài. Số tiền còn lại C giữ và tiêu xài cá nhân. Ngày 29/6/2017, H ra Phan Rang để thăm T. Do nghi ngờ bị lừa nên H đã đến Cơ quan Công an để trình báo. Tại Cơ quan điều tra, C đã thật thà khai báo hành vi của mình.

Tại Biên bản định giá tài sản số 59/BBĐG ngày 25/07/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang Tháp Chàm xác định: 01 vòng tay gồm 16 hạt màu trắng có giá trị: 10.000 đồng; 01 vòng tay màu bạc có đính các hạt màu tím có giá trị: 1.300.000 đồng, 01điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu vàng đồng có giá trị: 2.600.000 đồng.

Như vậy tổng giá trị tài sản C lừa đảo chiếm đoạt được là: 29.410.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Dương Tấn C: 2.950.000 đồng, 01 điện thoại di động kiểu dáng giả Iphone 6, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, 01 điện thoại Iphone 5S màu vàng đồng, 02 vòng đeo tay nữ, 01 thẻ ATM mang tên Ngô Thị Thanh H. Thu giữ của bà Ngô Thị Thanh H 2.000.000 đồng. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại tất cả tài sản trên cho anh Võ Ngọc H.

Cáo trạng số 79/QĐ-KSĐT ngày 07-9-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên việc truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến về bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: “xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: từ tháng 03/2017 đến tháng 05/2017, Dương Tấn C  đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của anh Võ Ngọc H có tổng giá trị là: 29.410.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã bồi thường cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, ông nội bị cáo là người có công cách mạng ...; các tình tiết này quy định tại điểm p, b khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với bà Ngô Thị Thanh H khi cho C mượn thẻ ATM và được C cho tiền, bà H không biết C sử dụng vào việc phạm tội cũng như không biết số tiền C cho là tiền do C phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự bà H; đối với Dương Thị Mỹ D đã có hành vi giúp C giả người con gái tên Thúy để nói chuyện với H nhưng D không biết đây là thủ đoạn lừa đảo của C nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với D là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Dương Tấn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Dương Tấn C  09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 30-6-2017.

Về án phí: Áp dụng: Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người bị hại vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


184
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2017/HSST ngày 07/11/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:83/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/11/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về