Bản án 83/2013/KDTM-ST ngày 10/10/2013 về hợp đồng thuê nhà

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 83/2013/KDTM-ST NGÀY 10/10/2013 VỀ HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ

Trong các ngày 04 và 10 tháng 10 năm 2013 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2012/TLST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2012, về việc: Tranh chấp về hợp đồng thuê nhà theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 398/2013/QĐXX-ST ngày 13 tháng 9 năm 2013, giữa:

Nguyên đơn là Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế; địa chỉ: 125/8 Nguyễn Cửu Vân, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp là ông Tô Ngọc Minh Tuấn đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 02 tháng 01 năm 2013).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Công Ly Tao, luật sư của Văn phòng Luật sư Trần Công Ly Tao thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn là bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng; địa chỉ: 125/15A Nguyễn Cửu Vân, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh,

Người đại diện hợp pháp là bà Hồ Thị Hồng Loan đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 02/8/2012).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Hồ Thị Hồng Loan là ông Nghiêm Xuân Lý, luật sư của Văn phòng Luật sư Tri Thức thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2012, nguyên đơn là Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế trình bày:

Ngày 30/10/2008, Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế (sau đây gọi tắt là Công ty Toàn Thế) ký hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD với ông Trịnh Long Dũng và bà Hồ Thị Nga về việc thuê toàn bộ cao ốc số 125/11 Nguyễn Cửu Vân, phường 17, quận Bình Thạnh có diện tích 1575m2, giá thuê là 8,40USD/m2/tháng, thời hạn thuê là 15 năm.

Để hợp thức hóa hợp đồng nêu trên ngày 17/7/2009 đôi bên đã ký hợp đồng thuê nhà ở được công chứng số 16434 với giá thuê là 50.000.000 đồng. Ngày 24/8/2009, đôi bên tiếp tục ký phụ lục hợp đồng số 011008/ML-AD01 về việc xác nhận ông Dũng và bà Nga đã nhận đủ tiền cọc và tiền thuê nhà.

Ngày 21/12/2011, Công ty Toàn Thế gửi văn bản thông báo chấm dứt hợp đồng thuê nhà. Ngày 24/12/2011, ông Dũng và bà Nga có văn bản không đồng ý và yêu cầu tiếp tục thực hiện các điều khoản trong hợp đồng số 011008/ML-AD. Nhận thấy các hợp đồng nêu trên vi phạm quy định về ngoại hối và che đậy một giao dịch khác nên yêu cầu hủy bỏ.

Ngày 04/01/2013, nguyên đơn có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung, yêu cầu ông Dũng và bà Nga hoàn trả lại số tiền cọc tương đương 248.000 đô la Mỹ.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

-  Đối với hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008:

Hợp đồng thuê nhà được tính bằng đô la Mỹ chỉ nhằm bảo đảm giá trị hợp đồng trong suốt thời gian thuê là 15 năm và được quy đổi theo tỷ giá của Ngân hàng Ngoại thương tại thời điểm thanh toán, tất cả những khoản thanh toán bên thuê đều trả bằng tiền đồng Việt Nam. Khoảng tiền đặt cọc thực tế cũng nhận bằng tiền đồng Việt Nam nên biên nhận giao tiền ghi “Toàn bộ số tiền đăt cọc... được quy đổi theo tỷ giá NHNN...).

Điều 4 khoản 1 của hợp đồng ghi rõ “Đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thực hiện đúng và đầy đủ các yêu cầu... Bồi thường cho bên còn lại khoản tiền bằng trị giá 30% giá trị thời hạn hợp đồng còn lại”. Dó đó, việc Công ty Toàn Thê yêu cầu chấm dứt hợp đồng là đã vi phạm thỏa thuận giữa đôi bên, ông Dũng và bà Nga không đồng ý trả lại số tiền cọc, số tiền này sẽ được trừ vào khoản bồi thường thiệt hại cho bên cho thuê.

Khi ký kết hợp đồng ngày 30/10/2008 căn nhà vẫn chưa hoàn thành do phải chỉnh sửa kết cấu theo yêu cầu của nguyên đơn. Sau đó, vào ngày 09/7/2009 mới bàn giao và tính tiền thuê nhà.

- Đối với hợp đồng thuê nhà số16434 ngày 17/07/2009:

Điều 2 của phụ lục hợp đồng số 011008/ML-AD ghi “Do nhu cầu của bên B- bên thuê, giá thuê trên HĐ 16434 ghi là 50.000.000Đ (Năm mươi triệu đồng) nhưng bên B cam kết thực hiện đúng số tiền thuê như đã thỏa thuận tại HĐ 011008/ML-AD”. Thực chất đây là việc mà bên cho thuê đã tạo điều kiện nhằm giúp cho bên B giảm chi phí khi đóng thuế thu nhập cá nhân cho bên A nên là hoàn toàn lỗi của nguyên đơn vì bị đơn hoàn toàn không có bất cứ quyền lợi gì đối với hợp đồng này.

Đơn yêu cầu phản tố ngày 08/8/2012 và tại Tòa án, bị đơn yêu cầu chấm dứt hợp đông thuê nhà do nguyên đơn vị phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nhà trong thời hạn 06 tháng liên tục và yêu cầu bồi thường do đơn phương chấm dứt thực hiện thỏa thuận thuê nhà trước thời hạn làm thiệt hại cho bị đơn sau khi trừ số tiền cọc với số tiền là 4.581.231.375 đồng, tiền thuê nhà là 2.702.182.997 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn yêu cầu nguyên đơn phải thanh toán tiền lãi do chậm trả tiền thuê nhà tính đến thời điểm xét xử.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận:

Giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm điều cấm của pháp luật, bị đơn không thể cho rằng không biết pháp luật khi ký hợp đồng thuê nhà trong đó giá thuê được thỏa thuận bằng ngoại tệ là vi phạm về ngoại hối

Hợp đồng ngày 30/10/2008 có thời hạn 15 năm nhưng không thực thủ tục công chứng. Sau đó, đôi bên đã ký hợp đồng được công chứng nhưng lại không thực hiện theo hợp đồng này. Do vậy, giao dịch giữa đôi bên là vô hiệu do vi phạm điều cấm và phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Nguyên đơn có quản lý, sử dụng mặt bằng thuê nên phải phải thanh toán tiền thuê nhà, nhưng hành vi của bị đơn đơn phương cắt điện, nước là đã vi phạm.

Việc bị đơn cho rằng bị thiệt hại do việc không trả được tiền vốn và lãi cho nạân hàng là không liên quan đến hợp đồng thuê nhà giữa nguyên đơn và bị đơn. số tiền cọc nhằm để bảo đảm việc thực hiện vụ trả tiền thuê nhà chứ không phải để khấu trừ vào việc bồi thường thiệt hại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận:

Nguyên đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nhà, đơn phương chấm dứt hợp đồng không đúng thỏa thuận.

Hợp đồng thuê nhà ngày 30/10/2008 không vi phạm pháp luật về ngoại hối vì theo Nghị định sổ 202/2004Nghị định số 95/2011 không quy định hành vi ghi giá bằng ngoại tệ trong hợp đồng là vi phạm. Giữa nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận giá thuê bằng ngoại tệ nhưng cũng thỏa thuận việc thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam và thực tế đã thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam nên không vi phạm quy định của pháp luật về ngoại hối. Nguyên đơn không chứng minh được nguồn ngoại tệ trả cho bị đơn nên việc nguyên đơn trình bày đã thanh toán cho bị đơn bằng ngoại tệ là không có cơ sở. Theo Nghị quyết số 04/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thỏa thuận nêu trên không bị coi là vô hiệu. Do đó, hợp đồng ngày 30/10/2008 có giá trị pháp lý.

Khi ký kết hợp đồng ngày 30/10/2008 căn nhà chưa hoàn thành nên không thể công chứng và sau đó đôi bên đã thực hiện thủ tục công chứng. Việc nguyên đơn không thanh toán tiền thuê nhà là đã vi phạm quy định của Bộ luật Dân sự nên việc bị đơn yêu cầu chấm hợp đồng hợp thuê nhà là phù hợp.

Đối với số tiền cọc, do nguyên đơn đã từ chối thực hiện hợp đồng thể hiện qua việc không thanh toán tiền thuê nhà, liên tục chậm trễ thanh toán tiền thuê nhà và đơn phương chấm dứt hợp đồnệ không đúng thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn phải chịu mẩt tiền cọc để trừ vào số tiền bồi thường thiệt hại, trả tiền thuc nhà từ ngày 09/3/2012 đến ngày 24/3/2013, tiền lãi do chậm thanh toán theo quy định tại Điều 305 của Bộ luật Dân sự và còn phải bồi thường cho bị đơn theo thỏa thuận do vi phạm hợp đồng dẫn đến bị đơn phải chịu thiệt hại không trả được tiền vốn và lãi cho ngân hàng và có khả năng bị phát mãi nhà trước thời hạn để trả nợ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

Thẩm phán đã vi phạm về thời hạn tổng đạt thông báo thụ lý vụ án và thời gian chuẩn bị xét xử. về giải quyết và xét xử vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của pháp luật về tố tụng. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia vụ án.

Ngoài ra, việc nguyên đơn thuê căn nhà để sử dụng làm văn phòng và có cho Công ty cổ phần Giải pháp Khách sạn Việt thuê lại nên đây là tranh chấp kinh doanh, thương mại.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Người đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng: Xây dựng tòa nhà số 125/11 và 125/11A Nguyễn Cửu Vân, phường 17, quận Bình Thạnh là để ở nhưng sau đó đã cho Công ty Toàn Thế thuê nhằm mục đích có thu nhập. Xét thấy, thỏa thuận thuê nhà của đôi bên đã hình thành ngay từ thời điểm bị đơn chưa hoàn thành việc xây dựng căn nhà cho thuê, thực tế bị đơn hoàn toàn biết rõ việc nguyên đơn thuê nhà là để kinh doanh, hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 có nội dung “Bên A cho bên B thuê toàn bộ cao ốc” và với mục đích sử dụng cho thuê lại làm văn phòng và nhà ở, với diện tích sử dụng là 1575m2, giá thuê là 8,40 đô la Mỹ/m2/tháng. Do đó, đã cợ sở xác định quan hệ thuê nhà giữa nguyên đơn và bị đơn đều có mục đích lợi nhuận nên tranh chấp trong vụ án giữa các đương sự là kinh doanh, thương mại về hợp đồng thuê nhà theo quy định tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 phần I của Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 1 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quvền 2Íải quyết của Tòa án.

2. Về yêu cầu của đương sự:

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận hợp đồng thuê nhà ở được công chứng số 16434 ngày 17/9/2009 là nhằm thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn được thể hiện tại Điều 3 của Phụ lục hợp đồng 011008/ML-AD/PL01 nhằm che giấu giá thuê nhà đã được đôi bên thỏa thuận tại hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 nên hợp đồng thuê nhà ở số 16434 ngày 17/9/2009 là vô hiệu theo quy định tại các điều 122, 124, 127 và 129 của Bộ luật Dân sự.

Đối với hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng: Hợp đồng đã vi phạm quy định về ngoại hối nên bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật; còn người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: Mặc dù đôi bên ghi giá thuê trên hợp đồng bằng ngoại tệ nhưng việc thanh toán là bằng tiền đồng Việt Nam, thực tế toàn bộ số tiền cọc và tiền thuê nhà đều được nguyên đơn thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam nên không vi phạm quy định của pháp luật về ngoại hổi. Xét thấy, Điều 2 của hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 ghi “2. Giá thuê là 8,40USD/m2/tháng...” và “... - Nếu thanh toán bằng tiền Việt Nam, tiền thuê sẽ được qui đổi theo tỷ giá Ngân hàng Ngoại thương tại TPHCM tại thời điểm thanh toán”, trong khi đó nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh nguôn gốc sô ngoại tệ đã trả cho bị đơn. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 492 của Bộ luật Dân sự thì hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, nguyên đơn và bị đơn đã không tuân thủ về hình thức của hợp đồng thuê nhà ở như đã nêu trên nên hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 vô hiệu theo quy định tại Điều 122, 124 và 410 của Bộ luật Dân sự và bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 425 của Bộ luật Dân sự; hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; cụ thể bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền cọc là 248.000 đô la Mỹ, nhưng được quy đổi theo tỷ giá đồng Việt Nam và đô la Mỹ được niêm yết trên trang Web của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tại thời điểm xét xử mà các được đã thỏa thuận tại biên bản hòa giải ngày 13/9/2013, cụ thể là 248.000 đô la Mỹ X 21.075 đồng = 5.226.600.000 đồng.

- Về yêu cầu của bị đơn:

Đối với số tiền thuê nhà, mặc dù hai hợp đồng nêu trên đều bị vô hiệu nhưng tại tòa các đương sự đều thừa nhận thỏa thuận thực tế thuê giá căn nhà được đôi bên thỏa thuận thanh toán theo kỳ hạn ba tháng tương đương số tiền 34.402 đô la Mỹ và thanh toán từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 15 của tháng thứ hai. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và nguyên đơn còn thừa nhận trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được bị đơn và Tòa án nhiều lần thông báo về việc bàn giao căn nhà thuê khi yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng nhưng nguyên đơn lại không đồng ý mà cho đến ngày 24/3/2013 mới đồng ý giao trả căn nhà thuê cho bị đơn. Do đó, nguyên đơn phải có nghĩa vụ trả tiền thuê nhà cho đến thời điểm giao mặt bằng, cụ thể: Tại tòa đôi bên đều xác nhận nguyên đơn bắt đầu không thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà đối với kỳ hạn từ ngày 09/3/2012 đến ngày 09/6/2013 và kỳ hạn này nguyên đơn chỉ thanh toán được số tiền 285.000.000 đồng sau đó hoàn toàn không thanh toán tiền thuê nhà cho bị đơn. Do đó, áp dụng dụng các điều 494, 495 của Bộ luật Dân sự buộc nguyên đơn phải thanh toán số tiền thuê nhà còn thiếu được tính từ ngày 09/3/2012 đến ngày 24/3/2013, cụ thể (được tính theo tỷ giá đồng Việt Nam và đô la Mỹ được niêm yết trên trang Web của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tại thời điểm phải thanh toán):

- Kỳ hạn từ ngày 09/3/2012 đến ngày 08/6/2012 nguyên đơn phải thanh toán số tiền thuê nhà tương đương 34.402 đô la Mỹ, nguyên đơn chỉ thanh toán số tiền 285.000.000 đồng nên còn phải thanh toán số tiền thuê nhà còn thiếu: 34.402 đô la Mỹ X 20.830 đồng = 716.593.660 đồng - 285.000.000 đồng = 431.593.660 đồng;

- Kỳ hạn từ ngày 09/6/2012 đến ngày 08/9/2012 nguyên đơn phải thanh toán số tiền thuê nhà tương đương 34.402 đô la Mỹ là: 34.402 đô la Mỹ X 20.830 đồng = 716.593.660 đồng;

- Từ ngày 09/9/2012 đến ngày 08/12/2012 nguyên đơn phải thanh toán số tiền thuê nhà tương đương 34.402 đô la Mỹ là: 34.402 đô la Mỹ X 20.860 đồng = 717.625.720 đồng;

- Từ ngày 09/12/2012 đến ngày 08/3/2013 nguyên đơn phải thanh toán số tiền thuê nhà tương đương 34.402 đô la Mỹ là: 34.402 đô la Mỹ X 20.825 đồng = 716.421.650 đồng;

- Từ ngày 09/3/2013 đến ngày 24/3/2013 nguyên đơn phải thanh toán số tiền thuê nhà tương đương 5.734 đô la Mỹ ngay sau khi giao trả nhà nhưng cho nay vẫn chưa thực hiện nên số tiền phải thanh toán là 5.734 đô la Mỹ X 20.920 đồng = 119.955.280 đồng;

Tổng cộng nguyên đơn phải thanh toán số tiền thuê nhà còn thiếu là 431.593.660 đong + 716.593.660 đồng + 717.625.720 đồng + 716.421.650 đồng + 119.955.280 đồng = 2.702.189.970 đồng.

Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê nhà, tại tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người đại diện của bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải trả lãi do chậm trả tiền thuê nhà theo quy định tại Điều 305 của Bộ luật Dân sự. Xét thấy, nguyên đơn đã vi phạm thời hạn trả tiền thuê nhà nên yêu cầu nêu trên là có căn cứ và được tính cụ thể (mức lãi suất theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước):

- Tiền thuê nhà kỳ hạn từ 09/3/2012 đến 08/6/2012 là 431.593.660 đồng, ngày quá hạn trả (thỏa thuận của đôi bên từ ngày 11 đến ngày 15 của thána thứ hai trong kỳ hạn) là ngày 25/4/2012 tính đến nơàv 10/10/2013 là 01 năm 5,5 tháng X 431.593.660 đồng X 9%/năm = 56.646.668 đồng;

- Số tiền thuê nhà kỳ hạn từ ngày 09/6/2012 đến 08/9/2012 là 716.593.660 đồng, ngày quá hạn thanh toán là 25/7/2012 tính đến ngày 10/10/2013 là 01 năm 2,5 tháng X 716.593.660 đồng X 9%/năm = 77.929.561 đồng;

- Số tiền thuê nhà kỳ hạn từ ngày 09/9/2012 đến 08/12/2012 là 717.625.720 đồng, ngày quá hạn thanh toán là 25/10/2012 tính đến ngày 10/10/2013 là 01 năm 11,5 tháng X 717.625.720 đồng X 9%/năm = 61.895.218 đồng;

- Số tiền thuê nhà kỳ hạn từ ngày 09/12/2012 đến 08/3/2013 là 716.421.650 đồng, ngày quá hạn thanh toán là 25/01/2013 tính đến ngày 10/10/2013 là 8.5 tháng X 716.421.650 đồng X 9%/năm = 45.671.880 đồng;

- Số tiền thuê nhà kỳ hạn từ ngày 09/3/2013 đến 24/3/2013 là 119.955.280 đồng, ngày quá hạn thanh toán là 25/03/2013 tính đến ngày 10/10/2013 là 6.5 tháng X 119.955.280 đồng X 9%/năm = 5.847.820 đồng.

Tổng cộng số tiền lãi và thuê nhà mà nguycn đơn còn phải thanh toán cho bị đơn là 56.646.668 đồng + 77.929.561 đồng + 61.895.218 đồng + 45.671.880 đồng + 5.847.820 đồng + 2.702.189.970 đồng = 2.950.181.117 đồng.

Đổi với yêu cầu bồi thường theo hợp đồng của bị đơn với số tiền là 4.581.231.375 đồng. Xét thấy, yêu cầu của bị đơn là không phù hợp với quy định của pháp luật, bởi lẽ: Hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 bị vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức của hợp đồng thuê nhà ở, nguyên đơn và bị đơn cùng có lỗi khi không thực hiện thủ tục công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký đối với hợp đồng này mà lại ký hợp đồng thuê nhà ở được công chứng số 16434 ngày 17/9/2009 có nội dung giả tạo về giá thuê nhà nhằm che dấu giá thuê thật được thể hiện rõ tại phụ lục hợp đồng số 011008/ML-AD/PL01 ngày 24/8/2009 nên không cỏ căn cứ để buộc nguyên đơn bồi thường thiệt hại.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự còn thỏa thuận: các chi phí mà nguyên đơn đã đầu tư tại căn nhà 125/11 Nguyễn Cửu Vân, phường 17, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh và hỗ trợ di dời là 100.000.000 đồng và bị đơn sẽ trả số tiền này bằng cách cấn trừ vào tiền thuê nhà. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận.

3. Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm: Được tính quy định tại Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, cụ thể:

Bị đơn phải chịu án phí trên yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận và yêu cầu phản tố của bị đơn không được^ chấp nhận là: (5.226.600.000 đồng + 4.581.231.375 đồng + 100.000.000 đồng) - 4.000.000.000 đồng X 0,1% + 112.000.000 đồng = 117.907.831 đồng.

Nguyên đơn phải chịu án phí trên yêu cầu của bị đơn được chấp nhận là 2.950.181.117 đồng-2.000.000.000 đồng X 2% = 91.003.622 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 122, 124, 127, 129, 410, 425, 494, 495 và 305 của Bộ luật Dân sự, Điều 306 của Luật Thương mại, Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án; Điều 245 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên bố Hợp đồng thuê nhà ở số 16434 ngày 17/9/2009, Hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 và phụ lục hợp đồng số 011008/ML-AD/PL01 ngày 24/8/2009 được ký kết giữa bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng và Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế vô hiệu và bị hủy bỏ.

2. Bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng phải trả cho Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế số tiền đặt cọc là 5.226.600.000 (Năm tỷ hai trăm hai mươi sáu triệu sáu trăm ngàn) đồng và chi phí mà Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế đã đầu tư tại căn nhà 125/11 Nguyễn Cửu Vân, phường 17, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh và hỗ trợ di dời là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Công tỵ TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế có đơn yêu cầu thi hành án, bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng chưa thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng còn phải chịu lãi theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời gian, số tiền chậm trả.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn là bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng, buộc Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế phải thanh toán số tiền thuê nhà còn thiếu và tiền lãi do chậm thanh toán tổng cộng là 2.950.181.117 (Hai tỷ chín trăm năm mươi triệu một trăm tám mươi mốt ngàn một trăm mười bảy) đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng có đơn yêu cầu thi hành án, Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế chưa thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế còn phải chịu lãi theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời gian, sổ tiền chậm trả.

Không chấp nhận yêu cầu bồi thường của bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng đối với Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế do đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 với số tiền là 4.581.231.375 đồng (Bốn tỷ năm trăm tám mươi một ngàn ba trăm bảy mươi lăm) đồng.

4. Về án phí:

Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế phải chịu án Dhí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 91.003,622 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000 đồng theo biên lai thu số 09714 ngày 08/3/2012 và 56.600.000 đồng theo biên lai thu số 04889 ngày 04/4/2013, Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế còn phải nộp sổ tiền 33.153.622 đồng;

Bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 118.485.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 54.074.438 đồng theo biên lai thu số 03438 ngày 21/8/2012, Bà Hồ Thị Nga va ông Trịnh Long Dũng còn phải nộp số tiền 63.833.393 đồng.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


667
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2013/KDTM-ST ngày 10/10/2013 về hợp đồng thuê nhà

Số hiệu:83/2013/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:10/10/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về