Bản án 82/2020/HNGĐ-ST ngày 25/11/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 82/2020/HNGĐ-ST NGÀY 25/11/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 333/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về Vệc: “ ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2020/QĐXX-ST ngày 05 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Nhật Phương V, sinh năm 1976. Trú tại: ấp M, xã A, thành phố B, tỉnh T.

Bị đơn: Ông Lê Nguyên V1, sinh năm 1974.

Trú tại: Số 178A1, ấp Mỹ An A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

(Chị V có mặt, anh V1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa chị Phạm Nhật Phương V trình bày:

Chị V và anh Lê Nguyên V1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 25/9/1999 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện R, tỉnh K. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hai vợ chồng không có tiếng nói chung, từ năm 2008 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Do anh V1 không còn quan tâm đến gia đình, không quan tâm vợ, không chu cấp kinh tế nuôi con, tình cảm vợ chồng là không thể hàn gắn, chị V xác định không còn tình cảm trong đời sống vợ chồng với anh V1 nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V1.

Về con chung: có 02 con chung Lê Thảo N, sinh năm 2001 và Lê Minh K, sinh ngày 01/10/2005. Cháu N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục Lê Minh K và không yêu cầu anh V1 cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị V khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lê Nguyên V1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Theo đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 10/9/2020 anh V1 đã trình bày ý kiến như sau:

Do anh V1 bận đi làm ăn xa và không xin nghỉ phép được nên anh V1 không thể tham gia được tất cả các buổi làm Vệc tại Tòa án. Vì vậy anh V1 xin phép được vắng mặt tại tất cả các buổi hòa giải, xét xử và giải quyết tại Tòa án.

Về hôn nhân: Anh Lê nguyên V1 đồng ý ly hôn với chị Phạm Nhật Phương V.

Về con chung; đồng ý với yêu cầu của chị V.

Tài sản chung, nợ chung: Anh V1 khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Vện kiểm sát nhân dân phát biểu quan điểm:

- Ý kiến về Vệc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật qui định đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

- Ý kiến về Vệc giải quyết vụ án: Chị Phạm Nhật Phương V và anh Lê Nguyên V1 đã chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, do mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng, chị V xác định không còn tình cảm với anh V1 nên yêu cầu giải quyết ly hôn, đề nghị của chị V là không trái với qui định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Phạm Nhật Phương V và anh Lê Nguyên V1 kết hôn tại xã C, huyện R, tỉnh K vào năm 1999 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm nên phát sinh mâu thuẫn. Chị V khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh V1, yêu cầu của chị V được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Nhật Phương V và anh Lê nguyên V1 có đăng ký kết hôn tại xã Cam Thịnh Đông, huyện Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa và anh V1 có nơi cư trú tại thành phố Bến Tre nên đây là vụ kiện xin ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Tại Giấy xác nhận chữ ký đề ngày 10/9/2020 anh Lê Nguyên V1 có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh V1. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Nguyên V1.

[3] xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Nhật Phương V đối với anh Lê Nguyên V1.

Về hôn nhân: Tại phiên tòa chị V vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh Lê Nguyên V1, chị V trình bày chị yêu cầu được ly hôn với anh V1 là do mâu thuẫn vợ chồng gây gắt thường xuyên bất đồng quan điểm, vợ chồng không thể hòa hợp, anh V1 không chăm lo cuộc sống gia đình, hiện tại chị và anh V1 đã sống ly thân, chị V không còn tình cảm với anh V1. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh V1 đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng trong đời sống vợ chồng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị và anh V1 không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: chị V và anh V1 có 02 con chung tên có 02 con chung tên Lê Thảo N, sinh năm 2001 và Lê Minh K sinh ngày 01/10/2005. Cháu Lê Thảo N đã trưởng thành nên hội đồng xét xử không xét đến điều kiện chăm sóc giáo dục.

Đối với cháu Lê Minh K hiện đang do chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hội đồng xét thấy, Vệc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi và nguyện vọng của các con chưa thành niên. Xét thấy hiện tại cháu K đang sống với chị V điều kiện sinh hoạt học tập là ổn định. Tại bản tự khai Anh V1 cũng có ý kiến đồng ý để chị V tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Mặt khác cháu K cũng có nguyện vọng được tiếp tục được mẹ chăm sóc nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, con chung Lê Minh K tiếp tục do chị Phạm Nhật Phương V chăm sóc giáo dục là phù hợp điều kiện sinh hoạt học tập và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: ghi nhận chị V không yêu cầu anh V1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng chi phí nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Do anh Lê Nguyên V1 vắng mặt tại phiên tòa nên không thể đối chất với lời trình bày của chị V, anh V1 phải chịu mọi hậu quả pháp lý của Vệc vắng mặt.

[4] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ghi nhận chị V tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, 56, 57,58, 81, 82, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Nhật Phương V đối với anh Lê Nguyên V1.

Chị Phạm Nhật Phương V được ly hôn với anh Lê Nguyên V1.

Về con chung: Chị Phạm Nhật Phương V được quyền nuôi con chung là Lê Minh K, sinh ngày 01/10/2005.

Anh Lê Nguyên V1 có quyền tới thăm, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.Vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con Về cấp dưỡng chi phí nuôi con chung: Ghi nhận chị Phạm Nhật Phương V không yêu cầu anh Lê Nguyên V1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị Phạm Nhật Phương V phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003405 ngày 30/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre. Chị Phạm Nhật Phương V đã nộp xong án phí hôn nhân.

3.Chị Phạm Nhật Phương V có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Nguyên V1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 82/2020/HNGĐ-ST ngày 25/11/2020 về ly hôn

Số hiệu:82/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về