Bản án 81/2018/HS-ST ngày 29/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 81/2018/HS-ST NGÀY 29/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Minh T, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1997 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn Như xuân 1, xã Vĩnh Phương, Nha Trang, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K (chết), con bà Nguyễn Thị K (chết); Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 12/4/2017 Công an xã Vĩnh Phương ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2018, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Nguyễn Thị S, sinh năm 1969

Địa chỉ: Thôn Như Xuân 2, xã Vĩnh Phương, Nha Trang. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Đức T, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Số 24 đường 2/4 Tổ 3 Tây Bắc, Vĩnh Hải, Nha Trang. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

Ông Phan Văn H, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn Như Xuân 1, xã Vĩnh Phương, Nha Trang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Minh T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 9h ngày 05/5/2017 Lê Minh T đi bộ lòng vòng khu vực xã Vĩnh Phương nhằm mục đích xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến nhà bà Nguyễn Thị S tại thôn Như Xuân 2, xã Vĩnh Phương, Nha Trang thấy nhà đóng cửa, xung quanh không có ai nên Thành tìm cách đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản. T đi xung quanh nhà thấy có một cây rựa nên lấy cậy cửa sổ nhưng không được. Sau đó, T đi tới cửa bên hông nhà thì phát hiện cửa nhà chỉ đóng chốt dưới nên luồn ngón tay vào khe hở bên dưới mở chốt cửa. Sau khi đột nhập vào nhà, T đi đến phòng ngủ lấy trộm một máy tính xách tay hiệu ASUS và một điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng rồi giấu số tài sản trên vào trong áo trước ngực đi ra ngoài về nhà. Sau đó, T lấy xe máy cầm máy tính chạy đi tìm nơi bán. Cùng lúc này anh Phan Văn H trú cùng thôn đang phơi lúa thấy T đi ngang qua ôm một vật giấu trong áo sau đó lại thấy T điều khiển xe máy cầm máy tính chạy đi nên nghi ngờ T trộm cắp máy vi tính. Vì vậy, anh H đi hỏi thăm trong xóm xem có ai bị mất tài sản và biết được bà S bị mất nên nói cho bà S biết thấy T trộm máy vi tính. Số tài sản trên T mang đến tiệm điện thoại Kim T số 24 đường 2/4 phường Vĩnh Hải, Nha Trang bán cho anh Dương Đức T chủ cửa hàng điện thoại được 2.200.000đ. Số tiền bán được tài sản T dùng mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Khi phát hiện bị mất tài sản bà Nguyễn Thị S đến Công an xã Vĩnh Phương trình báo sự việc. Tại Công an xã và cơ quan điều tra, Lê Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vị phạm tội nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 147/HĐĐG ngày 17/5/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Nha Trang kết luận: 01 điện thoại di động Nokia 301 trị giá 570.000 đồng, 01 máy tính xách tay ASUS X550CC trị giá 4.945.500 đồng. Tổng giá trị tài sản mà T trộm cắp là 5.515.500 đồng (Năm triệu năm trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng).

Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 21/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã giữ nguyên kết luận truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm  p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 tuyên phạt bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.

Bị cáo Lê Minh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người bị hại là bà Nguyễn Thị S và người có quyền và nghĩa vụ liên quan là ông Dương Đức T, xét thấy việc vắng mặt của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Theo cáo trạng truy tố cho thấy, tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Khoảng 9h ngày 05/5/2017 tại khu vực thôn Như Xuân 2, xã Vĩnh Phương, Nha Trang Lê Minh T đột nhập vào nhà của bà Nguyễn Thị S lén lút trộm cắp một máy tính xách tay hiệu ASUS X550CC trị giá 4.945.500 đồng và một điện thoại di động hiệu Nokia 301 màu trắng trị giá 570.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà T trộm cắp là 5.515.500 đồng (Năm triệu năm trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng). Số tài sản trên T mang đến tiệm điện thoại Kim T số 24 đường 2/4 phường Vĩnh Hải, Nha Trang bán cho anh Dương Đức T chủ cửa hàng điện thoại được 2.200.000đ.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, để có tiền tiêu xài Lê Minh T đã lén lút chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, bản thân bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tộm cắp tài sản, sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã, nên cần phải xử lý nghiêm khắc.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản trộm cắp đã trả lại cho người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có tác dụng cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn yêu cầu; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Lê Minh T.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 09 (chín) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 16/01/2018.

* Về trách nhiệm dân sự: Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn yêu cầu; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

* Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lê Minh T phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 81/2018/HS-ST ngày 29/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:81/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về