Bản án 80/2020/HS-PT ngày 26/08/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 80/2020/HS-PT NGÀY 26/08/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2020/TLPT-HS ngày 17-7-2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn C, do có kháng cáo của bị cáo, của bị hại anh K’D; đối với bản án hình sự sơ thẩm số 49/2020/HS-ST ngày 15-6-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo kháng cáo, bị kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C; sinh ngày 06-01-1974 tại tỉnh Ninh Bình; nơi ĐKNKTT: Thôn h, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn h, xã LL, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Cao L (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1947; vợ: Ka L, sinh năm 1977 và có 02 người con, sinh năm 2000 và sinh năm 2003:

Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 58/2019/HS-ST ngày 18-10-2019 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (chấp hành án xong ngày 21-11-2019); bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Anh K’D, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn h, xã LL, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Trong vụ án này còn có bị hại anh Nguyễn Công T không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy tố, xét xử được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn C đã kết án về cùng tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; trong khi đó, vào ngày 31-12-2019, bị cáo C thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản tại huyện Bảo Lâm và thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ ngày 31-12-2019, bị cáo Châu đi bộ đến nhà anh K’D (Thôn h, xã LL, huyện BL) thấy trong nhà kho bên hông trái nhà anh K’D có 03 chiếc xe mô tô không có người trông coi, bị cáo C đi vào kho trộm 01 xe mô tô (nhãn hiệu Detech màu nâu không gắn biển số, có số khung và số máy 013082, không có khóa cổ và khóa điện).

Tại bản Kết luận số 04 ngày 03-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Lâm xác định giá trị chiếc xe mô tô 1.000.000đ.

Lần thứ hai: Sau khi trộm cắp chiếc xe mô tô của bị hại anh K’D, bị cáo C điều khiển xe đi đến nhà anh Bùi Ngọc H (tổ m, phường LS, thành phố BL). Bị cáo C và anh H bàn bạc trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 19 giờ 40 phút ngày 31-12- 2019, bị cáo Châu điều khiển xe mô tô chở anh H đi trên Quốc lộ 20 và đến trước nhà anh T (số 106 Quốc Lộ 20, thôn NS 1, xã LN, thành phố BL) thấy để 01 bao cà phê để tại hiên nhà không có người trông coi, bị cáo C và anh H trộm cắp bao cà phê này đưa ra xe mô tô đang dựng ở phía đối diện nhà anh T. Khi bị cáo C và anh H đặt bao cà phê vừa trộm cắp được lên xe thì bị phát hiện, bắt giữ và trình báo công an xã Lộc Nga.

Kết luận số 01 ngày 06-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bảo Lộc xác định bao cà phê quả tươi, trọng lượng 46kg trị giá 302.000đ.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc đã thu giữ xe mô tô nhãn hiệu Detech; 01 bao cà phê quả tươi, trọng lượng 46kg; đồng thời đã xử lý trả cho các bị hại. Nay các bị hại anh Toàn, anh K’D không có yêu cầu bồi thường.

Đối với anh Bùi Ngọc H thực hiện hành vi trộm cắp giá trị dưới 2 triệu; Cơ quan điều tra xử lý hành chính.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2020/HS-ST ngày 15-6-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung viết tắt BLHS năm 2015):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án:

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 23-6-2020 bị cáo C, bị hại anh K’D kháng cáo, đều đề nghị giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm, không thắc mắc khiếu nại bản án sơ thẩm. Về kháng cáo, bị cáo Châu, bị hại anh K’D cùng rút kháng cáo đề nghị hưởng án treo; giữ nguyên yêu cầu kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng cho rằng Tòa án áp dụng tình tiết tăng nặng điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 đối với bị cáo là không đúng; bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bột luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại, giảm 06 tháng tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Nguyễn Văn C đã bị kết án về cùng tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; trong khi đó, vào khoảng lúc 11 giờ ngày 31-12-2019, bị cáo C tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô (nhãn hiệu Detech màu nâu không gắn biển số, số khung và số máy 013082) của anh K’D giá trị 1.000.000đ; đến khoảng 19 giờ 40 phút ngày 31-12-2019, bị cáo C điều khiển chính xe mô tô đã trộm cắp chở anh H trộm cắp 01 bao cà phê trị giá 302.000đ để tại hiên nhà anh T thì bị bắt quả tang. Đối chiếu lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ; cấp sơ thẩm đánh giá toàn diện chứng cứ đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại để tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 là không đúng. Bởi lẽ, bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp chưa xóa án tích, là tình tiết cấu thành cơ bản của tội trộm cắp lần này dưới 2.000.000đ. Do vậy, cần sửa bản án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với bị cáo.

Sau khi xét xử, bị hại anh K’D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo Châu không phải chịu án phúc hình sự phúc thẩm.

 Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C, kháng cáo của bị hại anh K’D; sửa bản án bản án sơ thẩm; Xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 12 (mười hai) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu án phúc hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2020/HS-PT ngày 26/08/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:80/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về