Bản án 80/2020/DS-ST ngày 27/05/2020 về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H N, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 80/2020/DS-ST NGÀY 27/05/2020 VỀ TRANH CHẤP YÊU CẦU THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN

Ngày 27 tháng 5 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện HN tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2019/TLST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2019 về việc Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXX-ST ngày 06 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Vợ chồng ông Trần Văn C, sinh năm 1978 (có mặt) Bà La Thị Huyền T, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Số 112 đường Nguyễn Chí Thanh, thị trấn TQ, huyện HN, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Vợ chồng ông Lê Văn D, sinh năm 1973 (vắng mặt lần hai không lý do) Bà Trần Thị N, sinh năm 1977 (yêu cầu giải quyết vắng mặt). Địa chỉ: Thôn CLT, xã TQ Nam, huyện HN, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 - Theo đơn khởi kiện và lời khai và trong quá trình tố tụng của nguyên đơn vợ chồng ông Trần Văn C, bà La Thị Huyền T là: Vợ chồng ông C, bà T có bán thức ăn nuôi tôm cho vợ chồng ông D, bà N. Trong quá trình mua bán, vợ chồng ông D, bà N còn nợ vợ chồng ông C, bà T số tiền là 116.016.000 (Một trăm mười sáu triệu không trăm mười sáu nghìn) đồng.

Nay vợ chồng ông C, bà T yêu cầu vợ chồng ông D, bà N trả lại cho trả cho ông, bà số tiền còn nợ. Ông C, bà T không yêu cầu lãi suất.

- Theo lời khai của bị đơn, vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N tại biên bản lấy lời khai ngày 27/9/2019 là: Vợ chồng ông bà có mua bán thức ăn nuôi tôm với vợ chồng ông C, bà T. Trong quá trình mua bán thức ăn nuôi tôm, vợ chồng ông, bà vẫn thực hiện việc trả nợ đều đặn cho vợ chồng ông C, bà T. Tuy nhiên, vợ chồng ông C, bà T tự động chấm dứt việc mua bán thức ăn nuôi tôm với vợ chồng ông, bà. Do đó, vợ chồng ông, bà không thể trả đủ một lần số tiền còn nợ cho ông C, bà T được.

Ông D, bà N xác định còn nợ vợ chồng ông C, bà T số tiền 116.016.000 (Một trăm mười sáu triệu không trăm mười sáu nghìn) đồng, số tiền này chưa trừ chiết khấu phần trăm theo thỏa thuận giữa hai bên. Vợ chồng ông D, bà N yêu cầu trả dần số tiền còn nợ.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HN tỉnh Bình Định:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo qui định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N trả cho vợ chồng ông Trần Văn C, bà La Thị Huyền T số tiền 116.016.000 (Một trăm mười sáu triệu không trăm mười sáu nghìn) đồng. Án phí dân sự: Bị đơn chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Trần Thị N có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Lê Văn D vắng mặt lần hai không lý do; theo qui định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N.

[2] Theo qui định tại Điều 430 Bộ luật dân sự thì việc mua bán thức ăn nuôi tôm giữa vợ chồng ông Trần Văn C, bà La Thị Huyền T và vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N là hợp đồng mua bán tài sản.

[3] Căn cứ lời khai và tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp, cũng như lời khai của bị đơn, vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N, Hội đồng xét xử xác định: Giữa vợ chồng ông Trần Văn C, bà La Thị Huyền T và vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N là có xác lập thỏa thuận mua bán thức ăn nuôi tôm. Việc vợ chồng ông D, bà N còn nợ vợ chồng ông C, bà T số tiền 116.016.000 (Một trăm mười sáu triệu không trăm mười sáu nghìn) đồng là có thật. Ông D, bà N xác nhận còn nợ ông C, bàT số tiền này và yêu cầu ông C, bà T trừ chiết khấu phần trăm theo thỏa thuận giữa hai bên, đồng thời xin trả dần số tiền còn nợ. Ông D, bà N không cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu này của mình và yêu cầu của ông D, bà N không được vợ chồng ông C, bà T đồng ý nên không có căn cứ để xem xét yêu cầu của ông D, bà N.

[4] Từ những nhận định trên, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Trần Văn C, bà La Thị Huyền T, buộc vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N phải trả cho ông C, bà T số tiền 116.016.000 (Một trăm mười sáu triệu không trăm mười sáu nghìn) đồng, là có căn cứ. Tại phiên tòa hôm nay, vợ chồng ông C, bà T không yêu cầu vợ chồng ông D, bà N phải trả lãi nên tòa không xem xét khoản tiền lãi;

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Vì yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên theo qui định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vợ chồng ông D, bà N phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 116.016.000 đồng x 5% = 5.801.000 (Năm triệu tám trăm không một nghìn) đồng.

[6] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và đúng qui định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 430, 440 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Trần Văn C, bà La Thị Huyền T. Buộc vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N liên đới trả cho vợ chồng ông Trần Văn C, bà La Thị Huyền T số tiền 116.016.000 (Một trăm mười sáu triệu không trăm mười sáu nghìn) đồng.

Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Vợ chồng ông Lê Văn D, bà Trần Thị N phải nộp 5.801.000 (Năm triệu tám trăm không một nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Trả lại cho vợ chồng ông Trần Văn C, bà La Thị Huyền T số tiền 3.297.000 (Ba triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn) đồng bà đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005496 ngày 05 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HN tỉnh Bình Định.

3/ Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự vắng mặt cư trú để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2020/DS-ST ngày 27/05/2020 về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

Số hiệu:80/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoài Nhơn - Bình Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về