Bản án 80/2017/DS-ST ngày 23/08/2017 về tranh chấp nợ hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 80/2017/DS-ST NGÀY 23/08/2017 VỀ TRANH CHẤP NỢ HỤI

Ngày 23 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2017 về “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2017/QĐXX-ST ngày 17 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: - Bà Ngô Thị Kim L, sinh năm 1970. Địa chỉ:đường TĐ, phường A, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

- Ông Tạ Minh T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khu phố B, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Bà Ngô Thị Kim L là người đại diện theo ủy quyền của ông Tạ Minh T (văn bản ủy quyền ngày 16-5-2017)

2. Bị đơn: - Bà Nguyễn M  H sinh năm 1972.

- Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1971.

Cùng địa chỉ: Khu phố C, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Ông Nguyễn Bảo Q, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp BA, thị trấn CL, huyện CL, tỉnh Bến Tre là người đại diện theo ủy quyền của bà H và ông C (Văn bản ủy quyền ngày 03-7-2017). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 10/5/2017, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngô Thị Kim L đồng thời là đại diện theo ủy quyền của ông Tạ Minh T trình bày:

Ngày 17/01/2015 bà có cho bà H mượn số tiền 80.000.000 đồng nhưng không lập văn bản nên bà không chứng minh được. Ngoài ra, bà có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn M   H làm chủ. Thời gian tham gia hụi đã lâu, bà tham gia rất nhiều phần khác nhau và có những phần đã hoàn thành giao dịch. Khi bà H tuyên bố vỡ hụi thì giữa hai bên có tiến hành đối chiếu, lập văn bản để xác nhận nợ, bà H tự tay viết “Giấy thối vốn hụi” với nội dung “có thiếu vốn hụi của Ngô Thị Kim L, Tạ Minh T số tiền 717.635.000 đồng”, trong tổng số tiền này có 80.000.000 đồng là tiền là H mượn nên bà khởi kiện yêu cầu bà H và chồng là ông Nguyễn Ng  c C phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi tổng cộng là 717.635.000 đồng và bà không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này.

Bị đơn bà H và ông C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà H và ông C đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến cũng như yêu cầu của ông bà.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và của người tham gia tố tụng là đúng với quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quan điểm về giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Giữa bà Ngô Thị Kim L, ông Tạ Minh T và bà Nguyễn M   H có thỏa thuận hụi với nhau, sau khi vỡ hụi hai bên phát sinh tranh chấp, do bà H và ông Nguyễn Ng  c C c ng cư trú trên địa bàn thành phố BT nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre thụ lý giải quyết vụ kiện về “Tranh chấp nợ hụi” nêu trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bà L, ông T khởi kiện tranh chấp nợ hụi, chứng cứ cho yêu cầu khởi kiện này là “Giấy thối vốn hụi”. Hội đồng xét xử xét thấy trong nội dung của “Giấy thối vốn hụi” bà H xác nhận “có thiếu vốn hụi của Ngô Thị Kim L, Tạ Minh T số tiền 717.635.000 đồng” văn bản này do bà H tự viết và có ký tên xác nhận nên có giá trị pháp lý, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Ngày 09/6/2017, bà H có ký tên xác nhận vào biên bản giao nhận hồ sơ khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nhưng bị đơn không có ý kiến tự khai, giải trình, phản bác hay yêu cầu gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy có căn cứ để xác định bà H còn nợ tiền hụi của bà L, ông T là 717.635.000 đồng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Ông C và bà H có Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân phường P K, TP BT, tỉnh Bến Tre cấp ngày 19/4/2002 nên là vợ chồng hợp pháp. Mặt khác, tại “Biên bản làm việc” ngày 23/3/2017 ông C thừa nhận có biết việc bà H nợ tiền vay và tiền hụi của nhiều người với số tiền lớn nhưng không rõ cụ thể bao nhiêu, vì là nợ chung của vợ chồng nên ông đồng ý c ng vợ trả các khoản nợ. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và buộc ông C phải có trách nhiệm liên đới với bà H để trả số tiền 717.635.000 đồng cho bà L, ông T.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà H và ông C phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà L, ông T số tiền 717.635.000 đồng.

[5] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn phải nộp theo quy định của Nghị quyết 326/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là 32.705.000 đồng.

[6] Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo; thông báo về phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng qui định của bộ luật tố tụng dân sự, nhưng đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa c ng giấy triệu tập để dự phiên tòa đều được tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 471 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.

- Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 217  Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về “H  , hụi, biêu, phường”

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Kim L, ông Tạ Minh T. Buộc bà Nguyễn M   H và ông Nguyễn Ng  c C phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Ngô Thị Kim L, ông Tạ Minh T số tiền 717.635.000  (Bảy trăm mười bảy triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn) đồng.

Ghi nhận việc bà Ngô Thị Kim L, ông Tạ Minh T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bà Nguyễn M   H và ông Nguyễn Ng  c C phải liên đới nộp 32.705.000 (Ba mươi hai triệu bảy trăm lẻ năm ngàn) đồng.

Bà Ngô Thị Kim L, ông Tạ Minh T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.352.700 (Mười sáu triệu ba trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010832 ngày 18/5/2017 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố BT

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do Cnh đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


110
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2017/DS-ST ngày 23/08/2017 về tranh chấp nợ hụi

Số hiệu:80/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về