Bản án 79/2020/HS-ST ngày 29/07/2020 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 79/2020/HS-ST NGÀY 29/07/2020 VỀ TỘI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

 Ngày 29 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN HOÀNG D; sinh ngày 14 tháng 8 năm 1992 tại Vĩnh Long; Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú (tạm trú): nhà không số, hẻm 387, tổ 18, ấp D, xã E, huyện F, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ sắt; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T và bà Lưu Thị Thu M; có vợ: Lê Thị Ngọc H (đã ly hôn) và 01 con: sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ: ngày 04/01/2020, trả tự do ngày 08/01/2020; Bị cáo tại ngoại.

(Có mặt) Bị hại: Ông Phạm Quốc L, sinh năm 1972, hộ khẩu thường trú: số nhà 106/14/11 đường X, Phường G, quân H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty Cổ phần Y. Địa chỉ: số 648 đường Nguyễn T, Phường I, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền : Ông Nguyễn Duy M, sinh năm 1975, nơi cư trú: số nhà 220 đường Hồng L, Phường L, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/01/2020, Lê Văn P là cháu vợ (đã ly hôn) của NGUYỄN HOÀNG D đến nhà D tại huyện C chơi. Tại đây, P mượn điện thoại của D để nhắn tin cho bạn bè. D đồng ý và đưa điện thoại cho P mượn. Sau khi D đưa điện thoại, P đã bỏ về và mang điện thoại đến cửa hàng Phúc T, số 1563 đường Z, Phường O, Quận P cầm cố được 3.500.000 đồng. D có đăng tin tìm P trên mạng xã hội Facebook nhưng không gặp.

Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 04/01/2020, tại trước số 122 Phạm Văn H, Phường S, quận T, Nguyễn Hoàng D phát hiện Lê Văn P đang ngồi trong xe taxi Vinasun hiệu Toyota Camry biển số 51F-719.62 cùng 02 người bạn, xe do anh Phạm Quốc L điều khiển. D chặn đầu xe yêu cầu P xuống xe nói chuyện nhưng P không xuống. D cầm 01 sợi dây khóa xe bằng kim loại bọc nhựa bên ngoài đập vào cửa kính trước bên phải làm vỡ kính. Thấy vậy, P yêu cầu anh L điều khiển xe chạy đi. D tiếp tục dùng tay trái bám vào cửa sau bên phải xe ô tô. Khi xe ô tô chạy đến số 91B Phạm Văn H, Phường R, quận T thì va chạm với 01 xe taxi khác nên dừng lại.

Anh L là lái xe sợ nên mở cửa xe bỏ đi. D cầm sợi dây khóa tiếp tục đập vỡ kính cửa sau bên phải, kính chắn gió phía sau và làm vỡ một phần đèn xi nhan phía sau bên trái của xe ô tô. Sau đó, D mở cửa xe, dùng dây khóa đánh P và kéo P ra khỏi xe, đồng thời tri hô “cướp…” để mọi người giữ P lại. Nhận được thông tin, Công an Phường 3, quận Tân Bình đã đến hiện trường đưa D và tất cả những người liên quan về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Nguyễn Hoàng D đã thừa nhận hành vi dùng sợi dây khóa xe kim loại bọc nhựa bên ngoài đập vỡ kính cửa xe ô tô như trên, mục đích là yêu cầu P xuống xe giải quyết việc P chiếm đoạt điện thoại của D. Tiến hành thực nghiệm điều tra, Nguyễn Hoàng D diễn lại hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và lời khai của D.

Đối với hành vi chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Iphone 8 (tài sản hợp pháp của Nguyễn Hoàng D) của Lê Văn P vào ngày 01/01/2020 có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự. Do vụ việc xảy ra tại địa bàn huyện C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đã chuyển tố giác về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè để giải quyết theo thẩm quyền.

Anh Phạm Quốc L cho biết chiếc xe ô tô hiệu Toyota Camry biển số 51F- 719.62 thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty cổ phần Y giao cho anh là tài xế của công ty quản lý sử dụng, trường hợp xe bị hư hỏng thì anh L có trách nhiệm chi trả chi phí sửa chữa. Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Y là ông Nguyễn Duy M cho biết ngày 04/01/2020, anh Phạm Quốc L – tài xế của công ty có báo xe ô tô hiệu Toyota Camry biển số 51F-719.62 bị Nguyễn Hoàng D đập xe gây hư hỏng. Chi phí sửa chữa xe sẽ do anh Phạm Quốc L chịu trách nhiệm chi trả, công ty chỉ hỗ trợ 01 phần chi phí.

Theo kết quả định giá trong tố tụng thì tổng thiệt hại xe là 24.600.000 đồng. Ngày 27/4/2020, Nguyễn Hoàng D đã tự nguyện bồi thường 24.000.000 đồng cho anh Phạm Quốc L có sự chứng kiến của đại diện công ty Cổ phần Y để khắc phục thiệt hại của xe ô tô nói trên. Anh L và ông M đã nhận tiền bồi thường, đồng thời có ý kiến do thấy hoàn cảnh D khó khăn nên không yêu cầu D trả thêm số tiền còn thiếu là 600.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô hiệu Toyota Camry biển số 51F-719.62 là tài sản hợp pháp của công ty Cổ phần Y, tình trạng bị hư hỏng đèn xe sau, vỡ kính xe. Cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty, đại diện của công ty là ông Nguyễn Duy M đã nhận lại xe, không có thắc mắc, khiếu nại gì.

- 01 sợi dây xích dài khoảng 01 mét bên ngoài bọc nhựa, một đầu có khóa màu trắng là dụng cụ D sử dụng lúc phạm tội (làm hư hỏng xe ô tô).

- 01 con dao bấm màu đen bằng kim loại dài khoảng 20 cm, cán dao dài khoảng 10cm, D khai dùng để cắt gọt dây điện.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 23 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo NGUYỄN HOÀNG D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát đã trình bày luận tội, cụ thể:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo thì hành vi dùng sợi dây bằng kim loại đập vỡ kính cửa xe và đèn xe ô tô hiệu Toyota Camry biển số 51F-719.62 thuộc quyền quản lý hợp pháp của ông Phạm Quốc L, gây ra thiệt hại tổng cộng 24.600.000 đồng, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật nhà nước bảo vệ, làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an tại địa phương, bị cáo phạm tội do cố ý nên cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp để có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Từ căn cứ trên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại ông Phạm Quốc L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Y đã được bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 xe ô tô hiệu Toyota Camry biển số 51F-719.62 là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần Y. Cơ quan Công an đã trả lại cho Công ty Cổ phần Y. Hiện không có ai thắc mắc, khiếu nại gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét lại.

- Đối với 01 sợi dây xích dài khoảng 01 mét bên ngoài bọc nhựa, một đầu có khóa màu trắng và 01 con dao bấm màu đen bằng kim loại dài khoảng 20cm thu giữ của bị cáo. Xét thấy đây là những vật không có giá trị và bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy.

Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chiếu cố hoàn cảnh bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được thì việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo Nguyễn Hoàng D về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh tụng, thẩm tra các chứng cứ, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo, thì hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác có tổng trị giá 24.600.000 đồng của bị cáo là hành vi vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật nhà nước bảo vệ, làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an tại địa phương, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, giá trị tài sản bị cáo làm hư hỏng là 24.600.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời qua phần phân tích, đánh giá, nhận định của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội nhận thấy những căn cứ Viện kiểm sát viện dẫn làm cơ sở chứng minh hành vi phạm tội để đề nghị truy tố, xử phạt bị cáo như đã nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét thấy do mâu thuẫn cá nhân, không kiềm chế được bản thân mà bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, đã làm ảnh hưởng đến trật tự, an ninh tại địa phương, bị cáo phạm tội do cố ý nên cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp để có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có việc làm ổn định, có nơi ở rõ ràng, nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Việc đại diện viện kiểm sát căn cứ tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo để đề nghị áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 178 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại ông Phạm Quốc L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Y đã được bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo, do đó Hội đồng xét xử thống nhất không xem xét như đề nghị của Viện kiểm sát.

[5] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 xe ô tô hiệu Toyota Camry biển số 51F-719.62 là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần Y. Cơ quan Công an đã trả lại cho Công ty Cổ phần Y. Hiện không có ai thắc mắc, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử thống nhất không xem xét lại như đề nghị của Viện kiểm sát.

Đối với 01 sợi dây xích dài khoảng 01 mét bên ngoài bọc nhựa, một đầu có khóa màu trắng và 01 con dao bấm màu đen bằng kim loại dài khoảng 20cm thu giữ của bị cáo. Xét thấy đây là những vật không có giá trị và bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy như đề nghị của Viện kiểm sát.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo NGUYỄN HOÀNG D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: NGUYỄN HOÀNG D 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng D cho Ủy ban nhân dân xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo (Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự).

[2] Tịch thu và tiêu hủy: 01 sợi dây xích dài khoảng 01 mét bên ngoài bọc nhựa, một đầu bọc kim loại màu trắng, một đầu có ổ khóa màu trắng và 01 con dao bấm màu đen bằng kim loại dài khoảng 20cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao dài khoảng 10cm (Tình trạng theo phiếu nhập kho vật chứng của Công an quận Tân Bình).

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

[4] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.

Đã giải thích chế định án treo. 


34
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về