Bản án 78/2020/HNGĐ-ST ngày 26/08/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 78/2020/HNGĐ-ST NGÀY 26/08/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 354/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2020/QĐ-ST ngày 17 tháng 8 năm 2020 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm 1980 (có đơn xét xử vắng mặt). Địa chỉ: ấp ÔY, xã HM, huyện CT, tỉnh TV.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1980 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp NH, xã HM, huyện CT, tỉnh TV.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trần Văn V trình bày: Năm 2001 anh và chị Nguyễn Thị X sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2012 anh đi làm ở Đăk Nông, chị X làm ở công ty Đồng Nai, mỗi khi về quê anh đều ghé rước chị. Năm 2013 chị Xiêm không chịu về nhưng không cho biết lý do, dù 02 con khóc nhưng chị vẫn bỏ đi để lại anh nuôi. Anh và chị ly thân từ năm 2013, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không đạt được.

Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Yêu cầu công nhận anh và chị không phải là vợ chồng và cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị X.

Về con chung: Trần Ngọc H, sinh ngày 10/3/2002 đã trưởng thành, Trần Thanh P, sinh ngày 25/7/2004, hiện đang sống với anh, anh yêu cầu được nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản và nợ chung: Anh V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

* Con chung Trần Thanh Ph trình bày tại bản tự khai ngày 01/7/2020: Nếu cha mẹ ly hôn nguyện vọng là được sống với cha.

Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự có có cơ hội đoàn tụ và thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên tại các phiên họp, hòa giải chị X đều vắng mặt không có lý do nên không tiến hành việc kiểm tra chứng cứ và hòa giải được. Do đó Tòa án nhân dân huyện Châu Thành lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử.

* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đơn khởi kiện, lời khai, lời trình bày của nguyên đơn, biên bản xác minh. Vị đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn, không công nhận anh V và chị X là vợ chồng. Con chung giao Trần Thanh P cho anh V được quyền nuôi dưỡng, anh V không yêu cầu chị X cấp dưỡng, nên không xem xét. Về tài sản và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét. Án phí anh V phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Nguyên đơn anh Trần Văn V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn chị Nguyễn Thị X, chị X có nơi cư trú tại ấp NH, xã HM, huyện CT, tỉnh TV. Con chung Trần Ngọc H, sinh ngày 10/3/2002 đã trưởng thành, Trần Thanh P, sinh ngày 25/7/2004, hiện đang sống với anh, anh yêu cầu được nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung, nợ chung không có. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về đưa người tham gia tố tụng và hòa giải: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đưa bị đơn là chị X tham gia tố tụng, thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo đúng quy định tại Điều 68, 177, 196, 205, 208, 209, 210 và Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự,tuy nhiên vụ án không tiến hành hòa giải được do chị Xiêm vắng mặt đến lần thứ hai. Tại phiên tòa hôm nay anh V và con chung mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị X.

[3] Về nội dung:

- Về hôn nhân: Năm 2001 anh Trần Văn V và chị Nguyễn Thị X sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên đây không phải là hôn nhân hợp pháp, không được pháp luật công nhận. Trong quá trình sống chung anh V cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012, nguyên nhân do chị X bỏ đi làm ăn xa và sau đó không về gần 08 năm nay, thiếu trách nhiệm với gia đình và con. Vì mâu thuẫn kéo dài nhiều năm, thời gian ly thân hai người bỏ mặc nhau, không thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên anh V yêu cầu công nhận anh và chị không phải là vợ chồng và xin được ly hôn chị X.

Xét yêu cầu của anh V cũng như quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận. Vì sao khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã gởi đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho chị X. Tòa án cũng tiến hành xác minh ghi lời khai mẹ ruột chị X về quan hệ hôn nhân giữa chị với anh V, về con chung, tài sản chung, nợ chung, được bà Lâm Thị L xác nhận việc Tòa án gởi đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho chị X, bà có nhận và có thông báo cho chị X được biết, chị X biết nhưng do đi làm xa, không nghĩ phép được nên không về, mâu thuẫn giữa chị X và anh V là có thật nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Mặc dù biết được việc anh V làm đơn yêu cầu ly hôn và được Tòa án mời tham gia hòa giải nhiều lần nhưng chị X vẫn không đến, như vậy chứng minh chị X không có thiện chí mong muốn đoàn tụ, hàn gắn với anh V. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm của anh V và chị X không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do chị X không có thành ý hàn gắn tình cảm. Nên căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận anh Trần Văn V và chị Nguyễn Thị X là vợ chồng, chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

- Về con chung: Trần Ngọc H, sinh ngày 10/3/2002 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; Trần Thanh P, sinh ngày 25/7/2004, hiện đang sống với anh V, anh yêu cầu được quyền nuôi dưỡng. Cháu P có nguyện vọng sống chung với anh V. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu P cho anh V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu P. Chị X có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh V không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản và nợ chung: Anh V trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Anh V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận anh Trần Văn V và chị Nguyễn Thị X là vợ chồng.

Về con chung: Trần Ngọc H, sinh ngày 10/3/2002 đã trưởng thành, không yêu cầu nên không xem xét, Trần Thanh P, sinh ngày 25/7/2004 giao cho anh V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Văn V không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trần Văn V trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Anh Trần Văn V phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009699 ngày 01/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

41
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 78/2020/HNGĐ-ST ngày 26/08/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:78/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về