Bản án 77/2020/HNGĐ-ST ngày 30/09/2020 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 77/2020/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2020 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 236/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2020 về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1990;

- Bị đơn: Chị Nguyễn Khánh L, sinh năm 1995;

Đu có địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện H, tỉnh T.

( Anh T và chị L đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/8/2020 và trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn anh Hoàng Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Khánh L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã B (nay là xã D), huyện H, tỉnh T ngày 27/06/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm. Mặc dù vợ chồng anh đã tự hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 6/2019 đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy giải quyết cho anh được ly hôn chị LLinh.

Về con chung: Anh và chị L có một con chung là Hoàng Anh P, sinh ngày 31/12/2015. Hiện con chung đang ở với chị L tại nhà bà ngoại ở xã D, huyện H. Ly hôn, anh đề nghị giao con P cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng trong những năm 2020 và 2021, những năm sau tùy vào tình hình thực tế của con chung và thu nhập của hai vợ chồng để yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh và chị L không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì lý do công việc nên anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Theo bản tự khai và đơn trình bày đề ngày 09/9/2020, bị đơn – chị Nguyễn Khánh Linh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L xác nhận thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như anh T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống gần 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm về sinh hoạt và khác biệt quá lớn về cách sống nên không cùng suy nghĩ với nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã ly thân hơn 1 năm nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh T làm đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, chị cũng nhất trí và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Chị đã được anh T thông báo về việc anh xin ly hôn chị và nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên do điều kiện hoàn cảnh công việc nên chị không thể về Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy làm việc được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy giải quyết cho chị được vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án và các phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Hoàng Anh P, sinh ngày 31/12/2015. Hiện cháu P đang ở cùng chị. Ly hôn, chị nhận trực tiếp nuôi dưỡng con P và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng trong những năm 2020 và 2021, những năm sau tùy vào tình hình thực tế của con chung và thu nhập của hai vợ chồng để yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con và đề nghị mức tiền cấp dưỡng nuôi con phải tăng theo năm.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều Điều 51, Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình công nhận cho anh Hoàng Ngọc T được ly hôn chị Nguyễn Khánh L; Về quan hệ con chung: Giao con chung Hoàng Anh P, sinh ngày 31/12/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành. Anh chị có thể yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khi có yêu cầu; Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh T và chị L không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã D, huyện H, tỉnh T và sinh sống tại địa phương, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thay đổi nơi cư trú vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Hoàng Ngọc T và chị Nguyễn Khánh L đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các bên đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là xã D), huyện H, tỉnh T và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16 ngày 27/6/2015. Tại thời điểm kết hôn, anh chị đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm về sinh hoạt và khác biệt quá lớn về cách sống nên không cùng suy nghĩ với nhau dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng và vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay và không có biện pháp gì để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Hiện nay, cả hai đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T xin ly hôn, chị L cũng nhất trí và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị L đã ở mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho anh Thủy được ly hôn chị Linh là phù hợp với thực tế và quy định tại điều 51và 56 Luật hôn nhân gia đình.

[4] Về quan hệ con chung: Anh T và chị L có một con chung là Hoàng Anh P,sinh ngày 31/12/2015. Ly hôn, anh T và chị L đều có nguyện vọng giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng trong những năm 2020 và năm 2021, những năm sau tùy tình hình thực tế của con chung để thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Xét sự tự nguyện của các đương sự trong vụ án cũng như để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của cháu P, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần xử giao con chung Hoàng Anh P cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và anh D cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

[5] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh T và chị L đều xác định không yêu cầu giải quyết về tài sản, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.

[6] Về án phí: Anh T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Anh T và chị L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Ngọc T được ly hôn chị Nguyễn Khánh L.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Khánh L trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Anh P, sinh ngày 31/12/2015, anh T cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Kng đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Anh Hoàng Ngọc T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chuyển số tiền 300.000đ anh Thủy đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002360 ngày 04/9/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí, anh T còn phải thi hành 300.000đ.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2020/HNGĐ-ST ngày 30/09/2020 về xin ly hôn

Số hiệu:77/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thái Thụy - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về