Bản án 77/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA T, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 77/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa T, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 402/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1981 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Trú tại: F347 ấp Long Đ, xã Long T B, huyện Hòa T, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Anh Tô Thanh L, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Trú tại: : F351 ấp Long Đ, xã Long T B, huyện Hòa T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện ngày 21/5/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:

Chị Nguyễn Thị Ngọc D và anh Tô Thanh L tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 1997 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 01/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Long T B, huyện Hòa T, tỉnh Tây Ninh. Anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau nhiều lần nên vợ chồng đã ly thân hơn 10 tháng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị D yêu cầu được ly hôn với anh L.

Về con chung: có 02 con tên Tô Thị Hồng Lê, sinh năm 1998 và Tô Thị Hồng Ngoan, sinh ngày 15/7/2007. Nếu ly hôn, cháu Lê đã T niên, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngoan, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

- Bị đơn: Anh Tô Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh L không đến Toà án để dự phiên hoà giải và dự phiên tòa.

Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị D, anh L là phù hợp theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chị D và anh L chung sống với nhau từ năm 1997 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình, cải vã nhiều lần, vợ chồng đã ly thân hơn 10 tháng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị D yêu cầu được ly hôn với anh L. Đối với yêu cầu ly hôn của chị D nhưng anh L không đến Tòa để giải quyết mâu thuẫn là không có thiện chí hàn gắn. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc D là có căn cứ.

Về con chung: có 02 con tên Tô Thị Hồng Lê, sinh năm 1998 và Tô Thị Hồng Ngoan, sinh ngày 15/7/2007. Hiện cháu Lê đã T niên, chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Ngoan có nguyện vọng được ở cùng mẹ nên giao cháu Ngoan cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp, ghi nhận chị D không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Từ phân tích trên, căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc D đối với anh Tô Thanh L.

nh án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Anh Tô Thanh L có nơi cư trú tại nhà số F351, ấp Long Đ, xã Long T B, huyện Hòa T, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân huyện Hòa T, tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án là đúng theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: trong quá trình thu thập chứng cứ cho đến khi xét xử, nguyên đơn là chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh L vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với chị D, anh L là đúng với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội Dng vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh L chung sống với nhau từ năm 1997 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do tính tình hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã và đã ly thân hơn 10 tháng. Nay chị D cương quyết ly hôn với anh L. Xét thấy, chị D và anh L không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là phù hợp.

[3.2] Về con chung: Có 02 con tên Tô Thị Hồng Lê, sinh năm 1998 và Tô Thị Hồng Ngoan, sinh ngày 15/7/2007. Cháu Lê đã T niên, có khả năng lao động, sinh sống được nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Cháu Ngoan có nguyện vọng được sống chung với chị D và chị D cũng đồng ý nuôi con nên giao cháu Ngoan cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là có căn cứ và phù hợp theo quy định của pháp luật. Chị D không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.3] Về tài sản chung: Chị D trình bày không có. [3.4] Về nợ chung: Chị D trình bày không có.

[3.5] Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Xét thấy đề nghị của Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa T là hợp lý cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc D đối với anh Tô Thanh L. Chị Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với anh Tô Thanh L.

2. Về con chung: Cháu Tô Thị Hồng Lê, sinh năm 1998 đã T niên, có khả năng lao động, sinh sống được, chị D không yêu cầu giải quyết.

Giao chị Nguyễn Thị Ngọc D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Tô Thị Hồng Ngoan, sinh ngày 15/7/2007. Ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị D trình bày không có.

4. Về nợ chung: Chị D trình bày không có.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013464 ngày 21/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa T, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị D đã nộp xong tiền án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.


46
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:77/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về