Bản án 77/2017/HS-PT ngày 21/12/2017 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 77/2017/HS-PT NGÀY 21/12/2017 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 103/2017/TLPT- HS ngày 07 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2017/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Xuân Đ (tên gọi khác: Nguyễn Thị Đ), sinh năm 1969; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thế K, sinh năm 1925 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; có chồng là Phạm Văn T (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 04/2012/HSST ngày 16/02/2012, Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thử thách 03 năm 09 tháng về tội Chứa mại dâm; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2017 đến ngày 16/8/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “có mặt”.

Trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: 

Khoảng 12 giờ ngày 13/5/2017, Nguyễn Văn B gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Xuân Đ là chủ quán cafe ở xã Q, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc hỏi “Có gái không lát em đến làm tý” ý hỏi mua dâm tại quán. Nguyễn Thị Xuân Đ trả lời “Có, chú lên đi”. Trần Văn V và Nguyễn Văn B sau khi uống rượu xong đã cùng nhau đến quan café của Nguyễn Thị Xuân Đ với mục đích để mua dâm, khi đến nơi Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Xuân Đ thỏa thuận giá300.000đ/lượt, hai bên đều đồng ý. Nguyễn Thị Xuân Đ bảo Nguyễn Thị T là nhân viên tại quán cafe lên phòng hát karaoke tại quán bán dâm cho Nguyễn Văn B. Nguyễn Thị Xuân Đ và Nguyễn Thị T thỏa thuận mỗi lượt bán dâm thu\300.000đ, trong đó Đ hưởng 50.000đ, T 250.000đ. Khi Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn B đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại phòng: 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Condom Hualei chưa sử dụng, thu của Nguyễn Thị T 300.000đ, thu của Nguyễn Thị Xuân Đ 835.000đ, 01 điện thoại di động, thu của Trần Văn V 01 điện thoại di động.

Cùng ngày 13/5/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Xuân Đ, quá trình khám xét đã thu giữ 06 bao cao su chưa sử dụng tại phòng ngủ của nhân viên.

Đối với Nguyễn Văn B có hành vi mua dâm, Trần Văn V đến quán cafe với mục đích để mua dâm, Nguyễn Thị T là gái bán dâm nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính. Với hành vi như trên, tại Bản án số 41/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện S đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ phạm tội “Chứa mại dâm”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự 2015, khoản 5 Điều 254; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị Xuân Đ 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 13/5/2017 đến ngày 16/8/2017. Phạt bị cáo số tiền 5.000.000đ sung quỹ nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/10/2017 bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ quyền công tố tại phiên toà phúc thẩm phát biểu quan điểm, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 12h ngày 13/5/2017, Nguyễn Văn B gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Xuân Đ là chủ quán cafe ở xã Q, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc hỏi có gái mại dâm không để cùng Trần Văn V đến mua dâm tại quán. Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Xuân Đ thỏa thuận giá 300.000đ/lượt. Sau khi thống nhất Nguyễn Thị Xuân Đ bảo Nguyễn Thị T là nhân viên tại quán cafe lên phòng hát karaoke tại quán bán dâm với Nguyễn Văn B. Khi Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn B đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị phát hiện, bắt quả tang.

[3] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự 1999 và khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo không chịu làm ăn lương thiện mà muốn có thu nhập trên thân xác của người phụ nữ, bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 16/02/2012 bị Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thử thách 03 năm 09 tháng về tội Chứa mại dâm nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cải tạo bản thân và tiếp tục phạm tội cùng loại. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và quyết định mức hình phạt 01 năm 06 tháng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng ngoài những tình tiết giảm nhẹ Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng, bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ không xuất trình được tài liệu nào mới, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ (tên gọi khác: Nguyễn Thị Đ), giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

Áp dụng: khoản 1, khoản 5 Điều 254; điểm p khoản 1,2 Điều 46; Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1 Điều 327; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 22/6/2017 của Quốc hội; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị Xuân Đ (tên gọi khác: Nguyễn Thị) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 13/5/2017 đến ngày 16/8/2017.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nguyễn Thị Xuân Đ (tên gọi khác: Nguyễn Thị Đ) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


149
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2017/HS-PT ngày 21/12/2017 về tội chứa mại dâm

Số hiệu:77/2017/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về