Bản án 77/2017/HSPT ngày 03/08/2017 về tội buôn hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 30/2018/HS-PT NGÀY 03/08/2017 VỀ TỘI BUÔN HÀNG CẤM

Ngày 03 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2016/TLPT-HS ngày 13 tháng 6 năm 2016 do có kháng cáo của bị cáo Lý Bá S đối với bản án hình sự sơ thẩm số 43/2016/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2016 của Toà án nhân dân huyện  B, tỉnh Long An.

Bị cáo kháng cáo: Lý Bá S, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1968; ĐKTT: 168/5 Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Lái xe: Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lý K (chết) và bà Võ Thị T sinh năm 1938;

Vợ:  Đinh Thị Ngọc H, sinh năm 1976; Có 02 con (sinh năm 1998 và 2003); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/01/2016 đến ngày 03/02/2016 được cho bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:

Bị cáo: Phạm Vũ L, tên gọi khác: không, sinh năm: 1993; ĐKTT: ấp B, xã N, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: chăn nuôi, trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị Tuyết T, bản thân chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Văn M, sinh năm: 1969; ĐKTT: ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

2. Đỗ Tuý H, sinh năm: 1955; ĐKTT: 57/6/22 đường Đ, phường D quận B, Tp.HCM.

3. Lý Bá H, sinh năm: 1997; ĐKTT: 168/5 đường N, khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

4. Võ Hùng P, sinh năm: 1961; ĐKTT: ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

5. Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1984; ĐKTT: ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện B thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong chuyến mua cây cảnh tại huyện Đ, Lý Bá S biết H (không rõ địa chỉ) bán thuốc lá ngoại nhập lậu cho các đối tượng chạy xe honda khách tại khu vực cầu Đ nên S muốn mua thuốc lá ngoại nhập lậu nhằm bán lại kiếm lời. Khoảng 16 giờ ngày 19/5/2015, Lý Bá S điện thoại đặt mua thuốc lá ngoại nhập lậu được H đồng ý bán và hẹn khoảng 22 giờ giao thuốc tại bãi cát khu vực cầu Đ, thị trấn H, huyện Đ.

Khoảng 18 giờ ngày 19/5/2015 Phạm Vũ L đi từ nhà tại ấp 1, xã N, huyện B đến nhà của Lý Bá H con ruột Lý Bá S tại khu phố A, thị trấn B, huyện B để rủ H đi chơi. Tại đây, L gặp Lý Bá S và được S thuê đi Đ vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu, khi về sẽ cho tiền thì L đồng ý. Lý Bá S điều khiển xe ô tô biển số 52M-3391 chở L đi từ thị trấn B đến thị trấn H, huyện Đ. S điều khiển xe qua cầu Đ rồi rẽ trái vào bãi cát cặp sông Vàm Cỏ Đông thì H điều khiển ghe máy chở thuốc lá ngoại nhập lậu đến. S mua của H 499 cây thuốc lá ngoại nhập lậu (tương đương 4990 bao) gồm 200 cây (2000 bao) hiệu Jet, 299 cây (2990 bao) hiệu Scott. H điều khiển ghe máy chở thuốc lá ngoại nhập lậu vào bờ cách vị trí S đậu xe khoảng 10m rồi vác các bao thuốc lá ngoại đựng trong túi nylong lên bờ cho Phan Vũ L và Lý Bá S chất lên xe. Số thuốc lá ngoại này Lý Bá S mua của Hùng với giá 140.000đ/cây thuốc Jet, 105.000đ/cây thuốc Scott, mục đích đem về thị trấn  B bán lại cho các điểm bán thuốc lá lẻ kiếm lời. Sau khi Phạm Vũ L chất thuốc lá ngoại lên xe, Lý Bá S trả tiền cho Hùng rồi điều khiển xe về thị trấn B. Trên đường về đến khu dân cư ấp B, xã T, huyện B thì xe bị nổ lốp, S điều khiển xe vào khu dân cư rồi đi tìm dụng cụ thay lốp xe, còn Phạm Vũ L ở lại trông giữ xe cùng số thuốc lá ngoại trên. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, lực lượng tuần tra Công an xã T phát hiện bắt giữ Lcùng tang vật, Lý Bá S chạy thoát.

Tại bản án số 43/2016/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2016 của Toà án nhân dân huyện B đã xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Lý Bá S, Phạm Vũ L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 155; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 20, Điều 53, Điều 45, Điều 33 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lý Bá S 02 (hai) năm tù, thời gian tù tính từ ngày thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 22/01/2016 đến ngày 03/02/2016.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 155; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều47 , Điều 20, Điều 53, Điều 45, Điều 33 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Vũ L 01 năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về tang vật: áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu, sung công quỹ nhà nước: 01 xe ô tô loại 09 chỗ ngồi, BKS 52M-3391; 01 giấy chứng nhận kiểm định; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Đỗ Túy Hoa, 01 điện thoại di động hiệu Philips E130 màu đen đã qua sử dụng.

- Tịch thu, tiêu hủy: 4.990 bao thuốc lá ngoại các loại gồm: 2.000 bao hiệu Jet, 2.990 bao hiệu Scott.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền Việt Nam 40.000 đồng (Bốn chục ngàn đồng) để đảm bảo thi hành án.

- Hoàn trả cho bị cáo Lý Bá S 01 giấy phép lái xe, ký hiệu AT: 690860; 01 giấy CMND số 300661004, tất cả mang tên Lý Bá S.

- Hoàn trả cho Lý Bá H01 điện thoại di động hiệu TCL màu đen đã qua sử dụng.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 09 tháng 5 năm 2016, bị cáo Lý Bá S kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như bản án sơ thẩm đã nêu đồng thời xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng không oan. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu: Hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng không oan. Tuy nhiên theo hướng dẫn tại Công văn số 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa thì kể từ ngày 01/7/2015 đến ngày 01/01/2018, không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm và không xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa theo quy định tại Điều 155 BLHS năm 1999”; do đó hành vi buôn bán thuốc lá điếu ngoại nhập lậu của bị cáo thực hiện vào ngày 19/5/2015 (trước ngày 01/7/2015 - ngày Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực) được miễn trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Tố tụng Hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2016/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lý Bá S.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Khoảng 16 giờ ngày 19/5/2015, Lý Bá S điện thoại đặt mua của H (không rõ họ tên, địa chỉ) thuốc lá điếu ngoại nhập lậu để đem về thị trấn  B bán lại lấy lời đồng thời thuê Phạm Vũ L cùng tham gia vận chuyển. S sử dụng xe ô tô biển số 52M-3391 chở L đến bãi cát khu vực cầu Đ, thị trấn H, huyện Đ nhận 4.990 bao thuốc lá ngoại nhập lậu gồm 2.000 bao hiệu Jet, 2.990 bao hiệu Scott do H giao. Trên đường vận chuyển về  B thì bị phát hiện, L bị bắt giữ cùng tang vật, S chạy thoát.

Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn hàng cấm” nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo Điểm đ Khoản 2 Điều 155 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, không oan.

Tuy nhiên, theo mục 1 của Công văn số 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa thì“kể từ ngày 01/7/2015 đến ngày 01/01/2018, không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm và không xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa theo quy định tại Điều 155 BLHS năm 1999”.  Do đó hành vi buôn bán thuốc lá điếu ngoại nhập lậu của bị cáo thực hiện vào ngày 19/5/2015 (trước ngày 01/7/2015 - ngày Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực), cần áp dụng Điều 249 BL TTHS sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 25 Bộ luật hình sự 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Việc miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự nên bị cáo Lý Bá S không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Đối với Phạm Vũ L: Theo đoạn cuối mục 1 của Công văn 154 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa thì những người đã chấp hành xong hình phạt, được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc hình phạt còn lại thì đương nhiên được xóa án tích.

Vì vậy đối với Phạm Vũ L, sau khi xét xử sơ thẩm, không kháng cáo, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị; Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện  B kiểm tra thực hiện theo Công văn nói trên để xử lý, cụ thể: Trường hợp bị cáo Linh chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án thì được miễn toàn bộ hình phạt; trường hợp bị cáo Linh đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án thì miễn chấp hành hình phạt còn lại; Nếu bị cáo đã chấp hành xong hình phạt thì đương nhiên được xóa án tích.

Về vật chứng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử lý vật chứng đúng theo hướng dẫn tại mục 1 của Công văn 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa. Do đó, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần vật chứng.

Các khoản khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lý Bá S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng Hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Bá S, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 43/2016/HSST ngày 25/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện  B, tỉnh Long An.

Áp dụng Khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999: Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lý Bá S.

Việc miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự nên bị cáo Lý Bá S không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Các khoản khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[2] Bị cáo Lý Bá S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


281
  • Tên bản án:
    Bản án 77/2017/HSPT ngày 03/08/2017 về tội buôn hàng cấm
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    77/2017/HSPT
  • Cấp xét xử:
    Phúc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hình sự
  • Ngày ban hành:
    03/08/2017
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2017/HSPT ngày 03/08/2017 về tội buôn hàng cấm

Số hiệu:77/2017/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Long An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/08/2017
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về