Bản án 764/2017/HSPT ngày 07/11/2017 về tội giết người

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 764/2017/HSPT NGÀY 07/11/2017 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI 

Ngày 07 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 544/2017/HSPT ngày 27 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo Trần Bá Ch phạm tội “Giết người” do có kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2017/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo: Trần Bá Ch; sinh năm 1976; trú tại: thôn Thanh N, xã Thanh B, huyện Chương M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; con ông Trần Bá Th và bà Nguyễn Thị H; vợ là Trần Thị H1, có 2 con; tiền án tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 26/7/2016; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Bá Ch: Luật sư Nguyễn Trọng V - Công ty luật TNHH An N1 thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn N2; sinh năm 1994; trú tại: thôn Thanh N, xã Thanh B, huyện Chương M, thành phố Hà Nội; (đã chết).

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo:

1. Bà Trần Thị X, sinh năm 1968 (mẹ bị hại); có mặt.

2. Chị Đỗ Thị H2, sinh năm 1996 (vợ bị hại); có đơn xin vắng mặt.

đều trú tại: thôn Thanh N, xã Thanh B, huyện Chương M, thành phố Hà Nội.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại:

1. Luật sư Nguyễn Hồng B1; vắng mặt.

2. Luật sư Nguyễn Văn Th1; có mặt.

đều thuộc Công ty luật TNHH B và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 7 năm 2016, Trần Bá Ch thuê anh Nguyễn Văn Ch1 (sinh năm 1975, ở thôn Thanh N, Thanh B, Chương M, Hà Nội) dựng chuồng gà ở vườn nhà Ch. Trong khi làm việc, anh Ch1 đã nhặt con giun ném vào người Ch nên Ch giơ cuốc lên đẩy vào ngực anh Ch1 làm anh Ch1 bị đau ngực. Ngày 21/7/2016, anh Ch1 đi khám ở phòng khám đa khoa 16A Quang Vinh tại xã Ngọc H3, Chương M, Hà Nội. Kết quả chụp XQ lồng ngực thể hiện: Hình ảnh rạn nhẹ xương sườn số IX cung sau ngực phải.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/7/2016, Nguyễn Văn N2 (cháu anh Ch1) cầm theo một chiếc kéo đi đến nhà Ch. Chị Đỗ Thị H2 (vợ anh N2) đi theo, trên đường đi chị H2 gọi điện nói cho ông Nguyễn Văn Ch2 (bố chồng) biết về việc anh N2 đi đến nhà Ch. Khi đến nhà Ch, anh N2 mở cổng và đi vào phòng khách nhà Ch chửi bới. Lúc này, Ch và chị Nguyễn Thị Th2 (là người giúp việc của Ch) đang ngủ trong buồng nghe thấy tiếng N2 chửi bới chị Th2 gọi Ch dậy. Khi Ch đi ra phòng khách thì thấy chị H2 đang ôm anh N2 để can ngăn, Ch cùng chị H2 đẩy anh N2 ra ngoài rồi đóng cửa lại. Ch và chị H2 đứng bên trong giữ cửa còn anh N2 ở ngoài đập cửa, cầm kéo đâm vào ô kính trên cánh cửa làm vỡ góc ô kính, lưỡi kéo cứa vào mặt dưới cánh tay trái của Ch, gây rách da chảy máu. Lúc này, ông Nguyễn Văn Ch2 đi xe máy đến dựng xe trước cổng và đi vào trong sân nhà Ch đẩy anh N2 ra khỏi cổng nhà Ch. Ch quay vào buồng mặc quần áo, khi Ch từ trong buồng đi ra nhìn thấy anh N2 1 tay cầm kéo và 1 tay cầm gạch chạy từ ngoài sân vào nhà Ch. Ch chạy vào phía trong bếp thì bị anh N2 ném hòn gạch vào phần cổ bên dưới tai trái làm Ch bị choáng ngã xuống đất. Ch đứng dậy cầm 01 con dao bầu và 01 con dao phay để trên bàn bếp đuổi theo anh N2 đến ngã 3 thì thấy anh N2 rẽ trái, chạy tiếp 1 đoạn nữa thì anh N2 bị ngã xuống cạnh mương nước. Ch cầm dao bầu đâm một nhát vào sườn bên phải anh N2. Chị H2 chạy đuổi theo thì thấy anh N2 nằm ngửa dưới mương nước, ở sườn phải có 1 vết thương chảy máu. Lúc này, ông Ch2 đi xe máy cũng vừa đến thấy anh N2 bị thương đã gọi anh Nguyễn Gia Quang (là cháu ông Ch2) đến giúp đưa anh N2 đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Chương M, nhưng anh N2 đã tử vong trước khi đến bệnh viện.

Sau khi đâm anh N2, Ch cầm hai con dao chạy đến nhà anh Nguyễn Văn B2 (là bác của Ch) ở thôn Đồi Chè, xã Thanh B, huyện Chương M, Hà Nội kể về việc Ch vừa đâm chết người và vứt hai con dao xuống sân. Anh B2 đã gọi điện báo cho cơ quan công an biết sự việc. Sau đó Chiến đã được đưa đến trụ sở Công an huyện Chương M.

Đối với 02 con đao Ch vứt ở sân nhà anh B2, thì ông Nguyễn Văn Nh (là bố anh B2) thấy con đao bầu có dính máu, nghĩ là dao anh B2 vừa dùng cắt tiết gà nên đã rửa cả 02 con dao này. Anh B2 đã giao nộp 02 con dao trên cho Công an huyện Chương M.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ: Chất màu nâu đỏ nghi máu trên nền đường, 01 kéo sắt trên đường, 07 mảnh gạch vỡ trong khu vực nhà Ch.

Tại Kết luận giám định pháp y số 5215 ngày 06/9/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Văn N2: Mất máu cấp do vết thương thấu gan phải. Thương tích trên do vật nhọn có lưỡi sắc tác động dạng đâm gây nên.

Tại Kết luận giám định số 5902 ngày 11/10/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thàn phố Hà Nội kết luận:

- Chất nghi máu thu tại hiện trường là máu người, thuộc nhóm 0.

- Trên 01 con dao thái dài 36cm có lưỡi bằng kim loại màu đen dài 23,6cm, bản rộng nhất 5,4cm, mũi dao bằng, chuôi dao bằng gỗ màu nâu xám dài 12,4cm có dính máu người, do dấu vết ít không xác định được nhóm máu.

Trên 01 chiếc kéo, 01 dao bầu, 07 mảnh gạch vỡ không phát hiện thấy dấu vết máu.

Về hành vi Trần Bá Ch dùng cuốc đánh vào ngực anh Nguyễn Văn Ch1 thì tại Kết luận giám định pháp y thương tích số 727 ngày 22/12/2016 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội kết luận: Chạm thương phần mềm vùng ngực phải: Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 không có chương mục nào quy định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với thương tổn này. Nhiều khả năng chạm thương do vật tày gây nên.

Căn cứ kết luận giám định của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội, hành vi của Chiến dùng cuốc gây thương tích cho anh Ch1 chưa đủ căn cứ để xử lý về hình sự. Ngày 20/3/2017 Phòng Cảnh sát hình sự - Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ch theo điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, mức phạt 2.500.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, gia đình Trần Bá Ch đã bồi thường cho gia đinh anh Nguyễn Văn N2 30.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn Ch2, bà Trần Thị X và chị Đỗ Thị H2 yêu cầu bồi thường tiền mai táng phí, tiền tổn thất về tinh thần tổng số tiền là 252.000.000 đồng và đề nghị xử lý nghiêm đối với Trần Bá Ch.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2017/HSST ngày 15/6/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 610 Bộ luật dân sự 2005; Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, x phạt Trần Bá Ch 14 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 26/7/2016.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Bá Ch phải bồi thường 108.600.000 đồng tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho các đại diện hợp pháp của người bị hại do bà Trần Thị X đại diện.

Xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường 30.000.000 đồng. Bị cáo Trần Bá Ch còn phải bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 78.600.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/6/2017, người đại diện hợp pháp của người bị hại la bà Trần Thị X và chị Đỗ Thị Huê kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Trần Bá Ch.

Ngày 26/6/2017, bị cáo Trần Bá Ch kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Bá Ch đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã quy kết. Nay bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt tù để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội, bởi: Bị cáo đã thấy được hành vi trái pháp luật của mình, bị cáo rất hối hận.

Đại diện hợp pháp của người bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm tăng mức hình phạt tù và cả phần bồi thường thiệt hại nữa, bởi vì: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 14 năm tù là nhẹ và bồi thường cho gia đình người bị hại còn ít.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi kiểm tra tính có căn cứ của bản án sơ thẩm thì đã khẳng định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá một cách khách quan về tính chất - mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cũng như đã xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo và đã đánh giá mức độ lỗi của mỗi bên. Từ đó, xử phạt bị cáo 14 năm tù là thỏa đáng, mức hình phạt này không phải là nhẹ và cũng không phải là nặng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo, cũng như kháng cáo tăng mức hình phạt tù của người đại diện hợp pháp của người bị hại để giữ nguyên hình phạt tù của bị cáo như bản án sơ thẩm, kể cả phần bồi thường.

Người bào chữa cho bị cáo, luật sư Nguyễn Trọng V: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để khoan hồng cho bị cáo như nội dung kháng cáo của bị cáo.

Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị hại, luật sư Nguyễn Văn Thái: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại, để tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo và buộc bị cáo phải bồi thường thêm cho gia đình bị hại.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét một cách khách quan - toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời bào chữa của luật sư, lời trình bày của đại diện hợp pháp của người bị hại và các tài liệu- chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Bá Ch đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cái chết đối với anh Nguyễn Văn N2 đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã qui kết đối với bị cáo, cụ thể: bị cáo là người đã sử dụng hung khí nguy hiểm là dao nhọn đâm chết anh N2 vào chiều ngày 26/7/2016 tại phía trước cửa nhà gia đình bị cáo. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo, lời khai của chị Đỗ Thị H2 (vợ anh N2), lời khai của ông Nguyễn Văn Ch2 (bố đẻ anh N2) đều thể hiện: Do bực tức về việc bị cáo Ch dùng cuốc thúc vào ngực anh Nguyễn Văn Ch1 (chú ruột của anh N2) nhưng sau đó Ch lại không có trách nhiệm gì. Từ suy nghĩ đó, anh N2 đã cầm theo chiếc kéo đến nhà bị cáo, với thái độ hằn học, bức xúc và sẵn sàng chấp nhận đánh nhau. Chính vì vậy mà vợ anh N2 là chị H2 đã phải chạy theo anh N2 cùng đến nhà của Ch, vì chị H2 thấy chồng mình có thái độ không bình thường, đoán là sẽ có việc bất trắc xảy ra nên trên đường đến nhà Ch thì chị H2 liền gọi điện thoại báo cho bố chồng là ông Nguyễn Văn Ch2 biết để can ngăn anh N2. Sau khi nhận được tin do chị H2 báo, ông Ch2 đã đến nhà Ch, tại nhà Ch ông Ch2 đã quát tháo và tát vào mặt anh N2 02 phát và đuổi anh N2 đi về nhà, không được gây sự với Ch. Như vậy, rõ ràng trong vụ án này người bị hại có phần lỗi là đã cầm theo hung khí đến nhà bị cáo xông vào phòng khách, rồi ném gạch trúng vào vùng tai của bị cáo. Đây là nguyên nhân để bị cáo gây án, chứ không phải bị cáo vô cớ gây nên cái chết cho người bị hại; do đó, không thỏa mãn điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự (phạm tội có tính chất côn đồ). Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo Trần Bá Ch về tội “Giết người” theo qui định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ để xét xử bị cáo theo qui định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự mà cần giữ nguyên như bản án sơ thẩm.

Xét mức hình phạt 14 năm tù mà tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật để xử phạt bị cáo là thỏa đáng, phù hợp với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, phù hợp với nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác đối với bị cáo. Vì vậy, không có căn cứ để xử tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo nữa, mà cần phải giữ nguyên mức hình phạt tù của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa và cũng không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ch như nội dung kháng cáo của bị cáo.

Về nội dung kháng cáo của đại diện người bị hại đề nghị tăng phần bồi thường: Hội đồng xét xử thấy, do Tòa án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng Nghị quyết số 03 ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết, nên chỉ buộc bị cáo phải bồi thường cho đại diện gia đình người bị hại khoản tiền tương ứng với 60 tháng lương tối thiểu là không đúng qui định của pháp luật, chưa đảm bảo quyền lợi cho gia đình người bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy cần phải sửa bản án sơ thẩm về phần này, để buộc bị cáo phải bồi thường thêm cho đại diện hợp pháp của người bị hại tương ứng với 100 lần lương tối thiểu theo Bộ luật dân sự (tuy nhiên mức bồi thường được tính trừ phần lỗi của người bị hại 1 phần) thì mới đúng với qui định của pháp luật và mới đảm bảo quyền lợi cho gia đình người bị hại.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Ch kháng cáo xin giảm nhẹ không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên và căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Trần Bá Ch, cũng như nội dung kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại, để giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt tù đối với bị cáo. Nay tuyên: Trần Bá Ch phạm tội “Giết người”.

Áp dụng khoản 2 Điều 93; các điểm b, p khoản 1,2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Bá Ch 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 26/07/2016.

Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại về phần bồi thường thiệt hại, sửa bản án sơ thẩm như sau:

Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, các Điều 585, 591 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Trần Bá Ch phải có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại (do bà Trần Thị X là mẹ bị hại làm người đại diện) tổng số tiền là 138.000.000 đồng (xác nhận bị cáo và gia đình đã bồi thường được 30.000.000 đồng), số tiền bị cáo còn phải bồi thường là 108.000.000 (Một trăm linh tám triệu) đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Trần Bá Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/11/2017).


254
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về