Bản án 76/2018/HNGĐ-ST ngày 02/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 76/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 02 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 191/2018/TLST- HNGĐ, ngày 03/8/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01/10/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1992.(có mặt)

Địa chỉ: ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Long An.

Bị đơn :Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1977.(vắng mặt)

Địa chỉ: 2/37 K3 Ô 1 thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22/6/2018, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L có nội dung như sau:

Về quan hệ hôn nhân, bà L và ông V tự tìm hiểu được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tháng 4/2016 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 34/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống chung không hòa hợp và sống ly thân từ tháng 4/2018 đến nay, nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông V. Về con chung: không có. Về chia tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh V trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt, không làm bản tự khai không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào và không có ý kiến phản hồi hay yêu cầu gì đối với việc khởi kiện của bà L, cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà Nguyễn Thị Trúc L tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V. Ông V cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông V là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vẫn không tham gia phiên tòa sơ thẩm là từ bỏ quyền lợi của mình, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về nội dung vụ án:

Tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, bị đơn không đến Tòa để trình bày ý kiến, không có phản đối gì đối với yêu cầu của bà L là từ bỏ quyền lợi của mình, nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án trên những chứng cứ phía nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án xác định như sau:

Bà L và ông V kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn ngày 21/4/2016 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 34/2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn , huyện T, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2018. Nay thấy không thể hàn gắn được nên bà Nguyễn Thị Trúc L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V. Ông V không đến Tòa án để giải quyết tranh chấp, không đưa ra bất kỳ giải pháp nào hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông V là trầm trọng. Yêu cầu xin ly hôn của bà L là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: không có.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Cho đến khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết phần chia tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Trúc L là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L đối với ông Nguyễn Thanh V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V.

Về nuôi con chung: không có.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không giải quyết.

2/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003694, ngày 03/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị Trúc L đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Thanh V không phải chịu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bà L biết nếu không đồng ý với quyết định của bản án thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 02/11/2018. Bị đơn ông V vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2018/HNGĐ-ST ngày 02/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:76/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thủ Thừa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về