Bản án 75/2021/HS-ST ngày 25/05/2021 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH K, THÀNH PHỐ C

BẢN ÁN 75/2021/HS-ST NGÀY 25/05/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2021, đối với bị cáo:

Dương Thanh H (Tên gọi khác: Chà Già) (Có mặt) Giới tính: Nam Sinh năm 1971 Nơi sinh: C. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Nơi cư trú: Không nơi đăng ký thường trú.

Chỗ ở: 147/64A, Nguyễn Văn Cừ, phường An H, quận Ninh K, thành phố C.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Không xác định.

Họ và tên mẹ: Danh Thị S sinh năm 1956 (sống); Bị cáo chưa có vợ, con;

- Tiền án: 08 lần + Lần 1: Ngày 12/12/1989, bị Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ) xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

+ Lần 2: Ngày 14/8/1990, bị Tòa án nhân dân thị xã Cà Mau (cũ) xử phạt 36 tháng tù về các tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”, “cưỡng đoạt tài sản” và “chống người thi hành công vụ”.

+ Lần 3: Ngày 04/5/1993, bị Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ) xử phạt 04 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” và “trốn khỏi nơi giam giữ”.

+ Lần 4: Ngày 05/6/1995, bị Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải (cũ) xử phạt 05 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” và “trốn khỏi nơi giam giữ”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 18/8/2003.

+ Lần 5: Ngày 07/5/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 36 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 26/9/2006.

+ Lần 6: Ngày 19/7/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 10/7/2010.

+ Lần 7: Ngày 16/8/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 05 năm tù về tội “cướp giật tài sản”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 08/12/2015.

+ Lần 8: Ngày 11/7/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 24/8/2020. Bị cáo chưa được xóa án tích.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt ngày 02/01/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Ninh K.

Bị hại: Ông Đoàn Hùng S sinh năm 1986 (vắng mặt) Địa chỉ: 2/56, Bùi Thị Xuân, phường Thới B, quận Ninh K, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 15 phút sáng ngày 02/01/2021, bị cáo Dương Thanh H đi bộ từ nhà ở đường Trần Việt Châu đến các tuyến đường thuộc phường Thới Bình, quận Ninh K, TP. C để tìm tài sản của người dân để sơ hở lén lấy trộm. Khi đến nhà ông Đoàn H S – Số 2/56, Bùi Thị Xuân, phường Thới B, quận Ninh K, thành phố C. Bị cáo thấy phía trên cửa chính có phần lỗ trống nên đã trèo lên chui vào bên trong nhà lấy trộm điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus của ông S rồi tẩu thoát.

Sau khi phát hiện mất tài sản, ông S đến Công an phường Thới Bình trình báo sự việc và cung cấp tài khoản Icloud của điện thoại bị mất trộm để dò tìm. Qua trích xuất camera an ninh và mở kiểm tra định vị điện thoại bị mất trộm, xác định vị trí của điện thoại bị mất trộm tại phường An H, quận Ninh K, thành phố C nên đã kết hợp Công an phường An H tiến hành kiểm tra phát hiện bị cáo ở cuối hẻm 142 đường Trần Việt Châu, phường An H đang cầm điện thoại di động của ông S trên tay trái. Bị cáo thừa nhận điện thoại trên do bị cáo lấy trộm mà có và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng gold, số IMEI 258353060876555 do Công an phường Thới B lập biên bản thu giữ.

Tại kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG ngày 08/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND quận Ninh K, xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng gold, trị giá 2.100.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp điện thoại di động của ông Đoàn H S.

Đối với tang vật thu giữ: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Đoàn H S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng gold. Ông S đã nhận lại xong, không yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKSNK ngày 16 tháng 4 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh K truy tố bị cáo Dương Thanh H tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện giống như diễn biến trong cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và các biên bản có trong hồ sơ. Bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại nhằm mục đích tiêu xài. Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác được pháp luật bảo vệ.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo vừa chấp hành hình phạt tù xong lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức pháp luật kém. Bị cáo có 08 tiền án chưa xóa án tích nên lần phạm tội này xác định tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng hành vi của bị cáo. Cần hình phạt nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Thanh H mức án từ 04 năm đến 05 năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2021.

Xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Ninh K đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận Ninh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Thủ tục tố tụng: Đối với bị hại vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát không ý kiến về việc vắng mặt của những người này và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh K đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh K truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 02/01/2021, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng gold của ông Đoàn H S tại số 2/56, Bùi Thị Xuân, phường Thới B, quận Ninh K, thành phố C. Qua trích xuất camera an ninh và mở kiểm tra định vị điện thoại bị mất trộm xác định bị cáo đang cầm điện thoại của bị hại. Bị cáo thừa nhận lấy trộm tài sản của bị hại. Giá trị tài sản bị cáo lấy trộm là 2.100.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Về nhân thân: Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có 08 tiền án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức pháp luật kém. Lần phạm tội này của bị cáo được xác định với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra cũng như nhân thân của bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Ninh K đã ra quyết định xử lý vật chứng số 03 ngày 18/01/2021 trả lại tài sản cho ông Đoàn H S 01 điện thoại di động nhãn hiệu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng gold, IMEI 358353060876555. Bị hại xác nhận đã nhận lại tài sản.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố : Bị cáo Dương Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Bị cáo Dương Thanh H 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Ninh K đã ra quyết định xử lý vật chứng số 03 ngày 18/01/2021 trả lại tài sản cho ông Đoàn H S 01 điện thoại di động nhãn hiệu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng gold, IMEI 358353060876555. Bị hại xác nhận đã nhận lại tài sản.

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Dương Thanh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

89
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2021/HS-ST ngày 25/05/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:75/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ninh Kiều - Cần Thơ
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/05/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về