Bản án 75/2019/HNGĐST ngày 13/06/2019 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 75/2019/HNGĐST NGÀY 13/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 13 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 89/2018/TLST-HNGĐ ngày 5 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp: Ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/ 2019/QĐST-HNGĐ ngày 1 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Bà Phạm thị L sinh năm 1982

Trú tại: số 45 tổ 9 phường Thạch Bàn – Quận Long Biên – Hà Nội.

Bị đơn : Ông Yamaguchi M sinh năm 1975

Hộ chiếu số: MS3110768 cấp ngày 15/3/2008

Địa chỉ: Thành phố Kariya – Quận Aichi – Nhật Bản Bà L có mặt , Ông Yamaguchi M có đơn xin vắng mặt.

NHẬN THẤY

Theo đơn, lời khai của bà Phạm thị L thì nội dung vụ án như sau:

Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi M kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 19/1/2009 tại UBND Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ngôn ngữ, hai bên sống ly thân , bà L ở Việt Nam , ông Yamaguchi M về Nhật Bản, không ai quan tâm đến ai tình cảm vợ chồng không còn, do vậy bà L xin ly hôn.

Về con chung: Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi M không có con chung.

Về tài sản chung: Bà Phạm thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 25/4/2019 ông Yamaguchi M có đơn yêu cầu với nội dung sau :

Chấp nhận việc ly hôn giữa tôi và bà Phạm thị L.

Giữa tôi và bà Phạm thị L không có con chung.

Không Yêu cầu Tòa án hòa giải về các việc như tài sản và nhà của tôi.

Vì lý do cá nhân tôi không thể đến Việt Nam , tôi yêu cầu Tòa án gia đình hà Nội giải quyết việc ly hôn khi tôi vắng mặt.

Tôi xin hứa không phản đối phán quyết của Tòa án.Mọi thủ tục tài liệu tôi muốn được gửi đến bà Phạm thị L.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bà Phạm thị L trình bày: Bà L nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và gửi cho ông Yamaguchi M theo địa chỉ : Phòng 305 Sugiura 4-5-15 Sawatari-cho, Takahama-shi, Aichi-Ken- Japan, ông Yamaguchi M đã có Đơn gửi về để bà L nộp cho Tòa án đề nghị Tòa án xem xét. Bà Phạm thị L giữ nguyên yêu cầu trong đơn ly hôn, không có yêu cầu gì khác .

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã thực hiện việc ủy thác tư pháp theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, ông Yamaguchi M đã có Đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Yamaguchi Makoto.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ thấy rằng từ 4/1/2012 ông Yamaguchi M xuất cảnh chưa thấy nhập cảnh, thấy rằng mỗi người ở mỗi nơi, hai bên không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn, do vậy căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Linh.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản và nhà ở: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền: Ông Yamaguchi M đang cư trú tại Nhật Bản do vậy Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự .

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã thực hiện ủy thác tư pháp như sau:

Ngày 3/7/2018 Bộ tư pháp có Văn bản số 1675/CH-BTP gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội với nội dung: “Bộ tư pháp Việt Nam kính đề nghị Bộ tư pháp Nhật Bản thực hiện yêu cầu ủy thác của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội”. Ngày 13/6/2018 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã gửi Văn bản ủy thác tư pháp số 149/UTTPDS-TA24 ngày 13/6/2018 và hồ sơ ủy thác tư pháp đến Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản ( Vận đơn số RR 116 197 025 VN). Ngày 20/8/2018 Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản có Văn bản trả lời với nội dung : đã niêm yết công khai Văn bản tố tụng tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản .

Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho Ông Yamaguchi M thông qua bà Phạm thị L. Ngày 25/4/2019 ông Yamaguchi M đã có Đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy căn cứ khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự , Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Yamaguchi M và giành quyền kháng cáo cho ông Yamaguchi M theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi M kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 19/1/2009 tại UBND Thành phố Hà Nội. Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi M đều có nguyện vọng xin ly hôn. Thấy rằng hai bên sinh sống ở hai quốc gia khác nhau , không có cơ hội để chung sống cùng nhau , tình cảm vợ chồng không còn , mục đích hôn nhân không đạt được, nguyện vọng xin ly hôn của hai bên là phù hợp với điều 55 Luật hôn nhân gia đình , nên được chấp nhận.

2/ Về con chung: Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi M không có con chung.

3/ Về tài sản và nhà ở chung: Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét.

4/ Về án phí: Bà Phạm thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Từ những nhận định trên !

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37, khoản 1 điều 228, 474 , 477, khoản 4 điều 147, điều 271,273, điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự Căn cứ điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí , lệ phí Tòa án

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm thị Linh.

Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi M được ly hôn .

2/ Về con chung: Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi Makoto không có con chung.

3/ Về tài sản và nhà ở chung: Bà Phạm thị L và ông Yamaguchi M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét.

4/ Về án phí: Bà Phạm thị L chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 526 ngày 3/5/2018 tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội .

Bà Phạm thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ Toà tuyên án. Ông Yamaguchi M có quyền kháng cáo trong hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án theo quy định của pháp luật.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2019/HNGĐST ngày 13/06/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:75/2019/HNGĐST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về