Bản án 75/2017/HSST ngày 28/08/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 75/2017/HSST NGÀY 28/08/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 28 tháng 8 năm 2017 tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 68/2017/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2017/HSST-QĐ ngày 14/8/2017 đối với bị cáo:

BÙI THỊ KIM T, sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ĐKHKTT: Số B, B, đường C, phường N, Quận m, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số nhà a, tổ b, ấp S, xã N, huyện C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Bùi Đức T và bà Nguyễn Thị Út M; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại Võ Văn M: bà Lê Thị C, sinhnăm 1958; Trú tại: tổ a, khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bình Phước. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04 tháng 4 năm 2017, BÙI THỊ KIM T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Hayate, màu đen, biển kiểm soát 61G1 – 211.71 của ông Bùi Đức T (cha ruột của T) đi từ tổ 1, ấp Suối Ngang, xã N, huyện C, tỉnh Bình Phước đến Công ty Beesco Vina thuộc Khu công nghiệp Chơn Thành, theo đường Quốc lộ 14, hướng Nha Bích đi Chơn Thành. Khi đến đoạn đường thuộc tổ 6, khu phố 1, thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, do Thành không chú ý quan sát nên đã đụng vào phía sau xe đạp do ông Võ Văn M điều khiển đúng phần đường, đi cùng chiều phía trước gây tai nạn. Hậu quả T bị thương nhẹ, còn ông Minh ngã xuống đường và chết trên đường đi cấp cứu.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xảy ra ngày 04 tháng 4 năm 2017 xác định tình trạng các dấu vết cơ bản dẫn đến vụ tai nạn giao thông như sau: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thuộc Km 1001 –100m, Quốc lộ 14, mặt đường trải nhựa bằng phẳng rộng 17,9 mét, giữa đường có vạch sơn liền nét màu  vàng chia thành 02 phần đường, gồm 06 làn đường cho xe lưu thông.Nơi  xảy ra tai nạn là phần đường hướng xã Minh Thành đi thị trấn Chơn Thành (Minh Thành – Chơn Thành), có 03 làn đường. Làn đường thứ nhất sát với lề đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ rộng: 1,70 mét; làn đường thứ hai giữa phần đường dành cho xe mô tô, xe ô tô rộng: 3,55 mét; làn đường thứ ba, sát với tim đường dành cho xe ô tô rộng: 3,70 mét. Giữa làn đường xe ô tô, mô tô và làn đường xe mô tô, xe thô sơ có vạch sơn màu trắng liền nét để phân chia làn đường. Trong lề đường bên phải có biển báo đường cong về bên phải và có biển báo hiệu đường giao nhau (ngã 3). Chọn mép lề đường bên phải hướng Minh Thành – Chơn Thành làm lề chuẩn để do đạc, mô tả dấu vết tại hiện trường.

Chọn trụ điện hạ thế số 91B/2A/01 đặt trong lề đường chuẩn, cách mép lề đường chuẩn 6,15 mét làm vật chuẩn để đo các dấu vết tại hiện trường.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04 tháng 04 năm 2017 xác định tình trạng các dấu vết cơ bản dẫn đến vụ tai nạn giao thông như sau:

Xe đạp nữ, nhãn hiệu SONGMA, sau tai nạn giao thông bị ngã đổ về bên trái, nằm trên làn đường xe ô tô, mô tô thuộc phần đường hướng Minh Thành – Chơn Thành. Đầu xe quay hướng Chơn Thành, lệch về bên phải góc 450 (45 độ) so với hướng đi, đuôi xe quay hướng Minh Thành. Tâm trục bánh xe trước cách mép lề đường chuẩn 2,80 mét; tâm trục giữa cách mép lề đường chuẩn 3,15 mét; tâm trục bánh xe sau cách mép lề đường chuẩn 3,50 mét và cách vật chuẩn 17,28 mét.

Vị trí xe mô tô 61G1–211.71 sau tai nạn giao thông bị ngã đổ về bên phải, nằm từ trong lề ra mặt đường thuộc phần đường hướng Minh Thành – Chơn Thành, đầu xe hướng về bên phải góc 1200 so với hướng đi Chơn Thành. Tâm trục bánh xe trước cách mép lề đường chuẩn 0,35 mét và cách vật chuẩn 15,08 mét; tâm trục giữa cách mép lề đường chuẩn 0,67 mét; tâm trục bánh xe sau cách mép lề đường chuẩn 0,90 mét và cách tâm trục trước bánh trước của xe đạp 2,15 mét.

Kết quả đo nồng độ cồn qua hơi thở của BÙI THỊ KIM T là 0,00 mg/l. Bị cáo không có sử dụng chất có nồng độ cồn.

Bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định pháp luật.

Kết luận giám định số 123/2017/GĐPY ngày 07 tháng 4 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tình Bình Phước kết luận: Võ Văn M bị ngoại lực tác động gây chấn thương vỡ xương sọ, xuất huyết nội sọ dẫn đến tử vong.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của người bị hại số tiền 50.000.000 đồng.

Về vật chứng: Chiếc xe đạp kiểu nữ, nhãn hiệu SONGMA màu sơn vàng bạc của ông Võ Văn M đã được Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước trả lại cho người đại diện hợp pháp của ông Minh là bà Có.

Chiếc xe mô tô Hayate, màu đen, biển kiểm soát 61G1-211.71 là tài sản hợp pháp của ông Bùi Đức T (cha của Thành) và đã được Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước trả lại cho ông Thông.

Bản cáo trạng số 74/Ctr-VKS ngày 10/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo BÙI THỊ KIM T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo BÙI THỊ KIM T phạm tội tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm điểm b, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo và không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thi Có xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/4/ 2017, BÙI THỊ KIM T không có giấy phép lái xe theo quy định, đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Hayate, màu đen, biển kiểm soát 61G1 – 211.71 không chú ý quan sát phía trước nên đụng vào phía sau xe đạp do ông Võ Văn M điều khiển đúng, cùng chiều phía trước làm ông Minh ngã xuống đường và chết trên đường đi cấp cứu.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định hành vi của bị cáo BÙI THỊ KIM T điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thận trọng quan sát gây tai nạn giao thông đã vi phạm vào khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ và điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính Phủ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết 01 người nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Bị cáo điều khiển xe mô tô khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định nên hành vi của bị cáo thuộc tình tiết định khung “không có giấy phép lái xe” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự an toàn, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại. Tại phiên tòa Người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo là lao động chính của gia đình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là phù hợp.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại. Người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

[5] Về vật chứng: Chiếc xe đạp kiểu nữ, nhãn hiệu SONGMA màu sơn vàng bạc của ông Võ Văn M và chiếc xe mô tô Hayate, màu đen, biển kiểm soát 61G1-211.71 đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo BÙI THỊ KIM T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo BÙI THỊ KIM T 03 (ba) năm tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


125
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về