Bản án 74/2017/HNGĐ-ST ngày 19/12/2017 về tranh chấp ly hôn giữa bà T và ông S

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 74/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/12/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN GIỮA BÀ T VÀ ÔNG S

Ngày 19 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 229/2017/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2017/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê T, sinh năm 1978;

Địa chỉ: số 73/4 ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Đỗ S, sinh năm 1986;

Địa chỉ: số 208/5 ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 9 năm 2017 và quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Lê T trình bày: Bà và ông Đỗ S chung sống đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An, chung sống khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, ông S không chung thủy, sống chung với người phụ nữ khác như vợ chồng. Từ đó, bà và ông S không còn sống chung với nhau từ tháng 10 năm 2014. Bà Lê T cho rằng không còn hạnh phúc, không thể kéo dài hôn nhân nên yêu cầu ly hôn với ông Đỗ S.

Trong quá trình chung sống bà và ông Đỗ S có một người con chung tên là Đỗ H, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2013, hiện tại bà T đang nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu ông S cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng), tại phiên tòa bà T yêu cầu cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) thời gian cấp dưỡng từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi người con chung tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của bà Lê T và nơi cư trú của ông Đỗ S Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đỗ S đến tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhiều lần để xác định người trực tiếp nuôi con chung và về tài sản chung, nợ chung nhưng ông Đỗ S vắng mặt không rõ lý do và ông S không có ý kiến gì đối với nội dung khởi kiện của bà Lê T. Do đó, căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt ông Đỗ S.

[3] Bà Lê T và ông Đỗ S chung sống và đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông S là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đỗ S nhiều lần tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa bà T với ông S nhưng ông S vắng mặt. Việc ông S vắng mặt thể hiện ông S không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Bà T xác định bà không còn tình cảm với ông S, bà T giữ nguyên nguyện vọng yêu cầu ly hôn với ông S. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông S đã trầm trọng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Hôn nhân giữa bà T và ông S có một người con chung tên là Đỗ H, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2013. Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con. Xét thấy người con chung hiện nay bà T đang nuôi dưỡng nên đã ổn định về mặt tình cảm và tâm lý. Do đó, giao cho bà T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con chung tên là Đỗ H, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2013.

Bà T yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Tuy nhiên, mức cấp dưỡng bà T yêu cầu mỗi tháng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là cao hơn so với quy định chung của pháp luật vì bà T cho rằng ông S có bằng thuyền trưởng thu nhập bình quân mỗi tháng hơn 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nhưng bà T không cung cấp chứng cứ chứng minh. Mặt khác, tại phiên tòa, bà T yêu cầu cấp dưỡng mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi người con chung tròn 18 tuổi là phù hợp. Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom người con chung tên Đỗ H; Bà T, ông S có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con; Bà T, ông S có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định chung của pháp luật.

[5] Về nợ chung và tài sản chung: Bà T xác định không có nợ chung và tài sản chung.

[6] Về án phí, ông Đỗ S không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình. Bà Lê T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được đối trừ án phí sơ thẩm.

Ông Đỗ S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê T về việc xin ly hôn với ông Đỗ S. Bà Lê T được ly hôn với ông Đỗ S.

Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Lê T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con chung tên là Đỗ H, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2013, (Hiện đang sống cùng với bà T).

Buộc ông Đỗ S có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Lê T nuôi dưỡng người con chung tên là Đỗ H, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2013, mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi người con chung tên là Đỗ H tròn 18 tuổi.

Ông Đỗ S có quyền, nghĩa vụ thăm nom người con chung tên là Đỗ H, không ai được cản trở. Ông S thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Vì lợi ích người con, khi có căn cứ thì ông S, bà T hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con; Khi có lý do chính đáng thì bà T, ông S có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Bà Lê T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007849 ngày 06 tháng 10 năm 2017 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An được đối trừ thành án phí sơ thẩm.

Ông Đỗ S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) vì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Ông S có nghĩa vụ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Đỗ S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2017/HNGĐ-ST ngày 19/12/2017 về tranh chấp ly hôn giữa bà T và ông S

Số hiệu:74/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về