Bản án 73/2020/HNGĐ-ST ngày 28/09/2020 về tranh chấp ly hôn 

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 73/2020/HNGĐ-ST NGÀY 28/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim T, sinh năm 1981 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Trú tại: 301/4, ấp Long K, xã Long Thành N, thị xã Hòa T, tỉnh Tây N.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Trú tại: 301/4, ấp Long K, xã Long Thành N, thị xã Hòa T, tỉnh Tây N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện ngày 12/5/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Kim T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh G chung sống với nhau từ năm 2007 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình, anh G thường xuyên uống rượu không chăm lo cuộc sống gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh G.

Về con chung: Có 01 con tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 29/9/2008. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị trình bày không có.

Về nợ chung: Chị trình bày không có.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Gg không đến Toà án để dự phiên hoà giải và dự phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T, anh G là phù hợp theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chị T và anh G chung sống với nhau từ năm 2007 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình, cải vã nhiều lần. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị T yêu cầu được ly hôn với anh G. Đối với yêu cầu ly hôn của chị T nhưng anh G không đến Tòa án để giải quyết mâu thuẫn là không có thiện chí hàn gắn. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Kim T là có căn cứ.

Về con chung: có 01 con tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 29/9/2008. Hiện cháu K có nguyện vọng được ở cùng mẹ nên giao cháu K cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp, ghi nhận chị T không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con Về tài sản chung: Chị T trình bày không có.

Về nợ chung: Chị T trình bày không có.

Từ phân tích trên, căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Kim T đối với anh Nguyễn Trường G.

Tính án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Anh Nguyễn Trường G có nơi cư trú tại nhà số 301/4, ấp Long K, xã Long Thành N, thị xã Hòa T, tỉnh Tây N nên Tòa án nhân dân thị xã Hòa T, tỉnh Tây N thụ lý vụ án là đúng theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ cho đến khi xét xử, nguyên đơn là chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh G vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với chị T, anh G là đúng với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh G chung sống với nhau từ năm 2007 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do tính tình hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, nay chị T cương quyết ly hôn với anh G. Xét thấy, chị T và anh G không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp.

[3.2] Về con chung: Có 01 con tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 29/9/2008. Qua làm việc, cháu K có nguyện vọng được sống chung với chị T và chị T cũng đồng ý nuôi con nên giao cháu K cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là có căn cứ và phù hợp theo quy định của pháp luật. Chị T không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.3] Về tài sản chung: Chị T trình bày không có.

[3.4] Về nợ chung: Chị T trình bày không có.

[4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành là hợp lý cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Kim T đối với anh Nguyễn Trường G. Chị Nguyễn Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.

2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Kim T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Thiên K, sinh ngày 29/9/2008. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0008721 ngày 13/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị T đã nộp xong tiền án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.


23
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2020/HNGĐ-ST ngày 28/09/2020 về tranh chấp ly hôn 

Số hiệu:73/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hoà Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về