Bản án 73/2019/HS-ST ngày 26/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 73/2019/HS-ST NGÀY 26/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lường Thị H; tên gọi khác: Quàng Thị H, Lò Thị H. Sinh năm: 1970, tại: Xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản M, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 1; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn O (đã chết) và con bà Quàng Thị O (đã chết); bị cáo không có chồng nhưng có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2019, tạm giam ngày 06/6/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lường Thị H: Ông Lê Đình Thu, Luật sư - Thực hiện trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên - Có mặt.

2. Họ và tên: Lò Thị P; tên gọi khác: Lường Thị P. Sinh ngày: 13/3/1962, tại: Xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản M, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kháng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn M (chết năm 1991) và con bà Lò Thị P (đã chết); bị cáo là Lường Văn G (đã chết) có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1976, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền sự: Không, tiền án: Có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy; nhân thân: Bị xét xử năm 2017, chưa xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2019, tạm giam ngày 06/6/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lò Thị P: Ông Hoàng Tiến Ngọ, Luật sư - Thực hiện trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 28/5/2019, bị cáo Lường Thị H và bị cáo Lò Thị P đang ngồi chơi ở nhà thì bị cáo P lên cơn nghiện ma túy. Bị cáo P liền đưa 50.000đ cho bị cáo H nhờ bị cáo H đi tìm mua hộ ma túy để sử dụng. Bị cáo H đồng ý và nhận lấy 50.000đ bị cáo P đưa rồi đi xuống dưới gầm sàn thì gặp một người đàn ông tên là C (bị cáo H không biết họ và địa chỉ của C ở đâu). Khi gặp C, bị cáo H thuê và nói C chở bị cáo H đi bản H, xã P, huyện T có việc. Khi đi bị cáo H không nói cho C biết và C cũng không được biết bị cáo H đi tìm mua ma túy. Đến khu vực bản H, bị cáo H nói C dừng xe lại và đứng đợi bị cáo H ở ven đường, còn bị cáo H một mình đi bộ vào trong bản H để tìm mua Heroine. Khi đang đi thì bị cáo H gặp một cháu trai người dân tộc Mông khoảng 14 tuổi (bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu), bị cáo H liền hỏi có biết ở đâu có Heroine không, cháu đó trả lời là có, bị cáo H đưa cho cháu đó 200.000đ, nói đi mua Heroine hộ. Cháu trai đồng ý, nhận tiền H đưa rồi đi vào trong bản H, khoảng 01 giờ đồng hồ sau thì quay lại đưa cho bị cáo H 04 gói Heroine được gói bằng mảnh Nilon màu hồng. Bị cáo H nhận Heroine và trả cho cháu trai 10.000đ là tiền công mua hộ bị cáo H Heroine, sau đó cháu bé đi đâu bị cáo H không biết. Bị cáo H cất giấu 04 gói Heroine vào túi quần đang mặc rồi quay lại chỗ C đang đợi và nói Chủ chở H về nhà. Bị cáo H trả cho Chủ 50.000đ tiền công chở xe ôm, nhận tiền xong, Chủ đi đâu bị cáo H không biết. Bị cáo H vào nhà lấy 01 gói Heroine ra bẻ một phần và nhặt mảnh giấy ở sàn nhà gói lại rồi đưa cho bị cáo P. Số Heroine còn lại, bị cáo H gói lại như cũ và cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc. Đến khoảng 14 cùng ngày, khi bị cáo H, bị cáo P đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an đồn Mùn Chung phát hiện, bắt quả tang bị cáo H đang tàng trữ trái phép trong túi quần 04 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam, bị cáo P đang tàng trữ trái phép trong túi vải đang đeo trên người 01 gói Heroine có khối lượng 0,16 gam, mục đích để sử dụng cá nhân.

Tại bản các Kết luận giám định số: 559, 560/GĐ-PC09 ngày 09/6/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của các bị cáo Lường Thị H, Lò Thị P gửi giám định là ma tuý: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng thu giữ của bị cáo Lường Thị H là 0,18 gam, bị cáo Lò Thị P là 0,16 gam”.

Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo Lường Thị H và bị cáo Lò Thị P khai nhận: Ngày 28/5/2019 bị cáo Lò Thị P đưa cho bị cáo Lường Thị H 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) nhờ đi mua Heroine. Sau khi bị cáo H mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được 04 gói Heroine, bị cáo H lấy 01 gói Heroine bẻ một phần, sau đó gói bằng mảnh giấy rồi đưa cho bị cáo P. Đến khoảng 14 cùng ngày, tổ công tác Công an đồn Mùn Chung phát hiện, bắt quả tang bị cáo H đang tàng trữ trái phép trong túi quần 04 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam, bị cáo P đang tàng trữ trái phép trong túi vải đang đeo trên người 01 gói Heroine có khối lượng 0,16 gam, mục đích để sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số: 71/CT-VKS-TG ngày 17 tháng 7 năm 2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố các bị cáo Lường Thị H và Lò Thị P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lường Thị H từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lò Thị P từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 02 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa: 0,14 gam Heroine và 0,11 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án đã thu giữ của các bị cáo; 02 mảnh giấy, 04 mảnh nilon, 02 vỏ gói niêm phong và 01 túi vải màu đen đã qua sử dụng. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo .

Người bào chữa cho bị cáo Lường Thị H, nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhất trí với tổng khối lượng ma túy bị cáo phải chịu là 0,34 gam Heroine, bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án là 15 tháng tù, không phạt bổ sung và miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Thị H.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Thị P nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức hạn chế. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị hơi cao, đ ề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc quyết định mức hình phạt cho phù hợp, không phạt bổ sung và miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Thị P.

Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt các bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của các bị cáo: Ngày 28/5/2019 bị cáo Lò Thị P đưa cho bị cáo Lường Thị H 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) nhờ đi mua Heroine. Sau khi bị cáo H mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được 04 gói Heroine, bị cáo H lấy 01 gói Heroine bẻ một phần, sau đó gói bằng mảnh giấy rồi đưa cho bị cáo P, mục đích các bị cáo mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 14 cùng ngày, tổ công tác Công an đồn Mùn Chung phát hiện, bắt quả tang thu của bị cáo H 04 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam; thu giữ của bị cáo P 01 gói Heroine có khối lượng 0,16 gam; bị cáo H phải chịu trách nhiệm với tổng khối lượng Heroine đã thu giữ của các bị cáo là 0,34 gam.

Hành vi của các bị đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lường Thị H và bị cáo Lò Thị P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2] Về tính chất vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Lò Thị P là người khởi sướng, bị cáo Lường Thị H là người trực tiếp thực hiện tội phạm tích cực. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của các bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà các bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lường Thị H thành khẩn khai báo; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lường Thị H được gia đình nuôi cho học hết lớp 1 ở nhà lao động sản xuất, năm 1984 chung sống như vợ chồng với anh Lò Văn Thích, sinh năm 1968 có 04 người con chung sinh sống tại bản Phiêng Quảng, xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên; năm 2002 chung sống như vợ chồng với Lường Văn Sọn, sinh năm 1981 có 02 người con chung, sinh sống tại Bản M, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên cho đến ngày bị bắt. Là người mẹ lẽ ra bị cáo phải sống tốt, sống gương mẫu cho các con noi theo. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.

Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lò Thị P thành khẩn khai báo; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lò Thị P không được đi học, năm 1976 kết hôn với ông Lường Văn Giảng và sinh sống tại Bản M, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên. Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử tại Bản án số: 70/2017/HSST ngày 27/7/2017 tuyên phạt bị cáo 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã có thời gian cải tạo tại trai giam, lẽ ra phải sống tốt hơn, sống gương mẫu cho các con noi theo. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.

[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nghề nghiệp của các bị cáo đều sản xuất nông nghiệp, sinh sống tại xã có nền kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Lường Thị H từ 18 tháng đến 24 tháng tù; xử phạt bị cáo Lò Thị P từ 18 tháng đến 24 tháng tù và không phạt bổ sung đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, nên cần chấp nhận.

[6] Người bào chữa cho các bị cáo: Người bào chữa cho bị cáo Lường Thị H đề nghị mức án là 15 tháng tù; người bào chữa cho bị cáo Lò Thị P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt phù hợp, vì Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt là hơi cao. Xét thấy, đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo chưa thật phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[7] Đối với cháu trai người dân tộc Mông đã trao đổi bán Heroine với bị cáo Lường Thị H. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Tuần Giáo không có đủ căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số tiền 565.000đ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Tuần Giáo đã tạm giữ của bị cáo Lường Thị H, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép của bị cáo H. Ngày 12/6/2019 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 08 bằng hình thức trả lại số tiền trên cho ông Lường Văn Hặc là đại diện gia đình bị cáo H là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Vật chứng vụ án: Đối với 02 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa: 0,14 gam Heroine và 0,11 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án đã thu giữ của các bị cáo; 02 mảnh giấy, 04 mảnh nilon, 02 vỏ gói niêm phong, 01 túi vải màu đen đã qua sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.

[10] Án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã c ó điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí; theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (áp dụng đối với bị cáo Lường Thị H); Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (áp dụng đối với bị cáo Lò Thị P). Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Thị H (tên gọi khác: Quàng Thị H, Lò Thị H) và bị cáo Lò Thị P (tên gọi khác Lường Thị P) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lường Thị H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2019.

Xử phạt bị cáo Lò Thị P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2019.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,14 gam Heroine và 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,11 gam Heroine; 02 mảnh giấy, 04 mảnh nilon, 02 vỏ gói niêm phong và 01 túi vải màu đen đã qua sử dụng theo Phiếu nhập kho số: PNKVC 90 ngày 22/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

- Về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2019).


60
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2019/HS-ST ngày 26/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:73/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về