Bản án 73/2019/HS-ST ngày 06/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 73/2019/HS-ST NGÀY 06/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 06 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 70/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2019/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Đình C, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1970 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình H và bà Lê Thị C (đã chết); bị cáo có vợ là Phùng Thị V (đã chết); có 01 con; tiền án: Tại Bản án số 253/HSST ngày 14/11/2001, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích); tiền sự: Tại Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục b ắt buộc số 11/QĐ-TA ngày 02/6/2017, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà trong thời hạn 18 tháng (chưa được xóa); nhân thân: Tại Bản án số 194/HSST ngày 17/12/1988, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cướp giật tài sản của công dân ”; tại Bản án số 113/STHS ngày 02/5/1990, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 4 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành 4 năm 09 tháng tù (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giam ngày 14/9/2019; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 10/7/2019, chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 đi làm về dựng xe máy điện nhãn hiệu Autosun Dibao màu trắng, BKS: 15MĐ1 - 036.96 ở cuối sân chung của dãy trọ tại số 62/50/286 đường Lê Lai, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, chị H phát hiện xe máy điện của chị bị mất nên đến C ông an phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng trình báo.

Đồng thời, vào khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuần tra phát hiện đối tượng Vũ Đình C cùng 01 xe máy điện có biểu hiện nghi vấn nên đã đưa về trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an, Vũ Đình C khai nhận: Vào khoảng 14h ngày 10/7/2019, C đi bộ từ nhà hướng ra đầu ngõ 286 đường Lê Lai, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Khi đi qua dãy nhà trọ số 62/50/286 đường Lê Lai, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, C thấy cổng không khóa, C đi vào bên trong thì thấy 01 xe máy điện màu trắng BKS 15MĐ1- 036.96 dựng ở cuối đường nội bộ, sát tường phía bên trái nhìn từ ngoài vào. C tiến lại gần xe thì thấy xe không khóa cổ, xung quanh không có ai trông coi nên C về nhà lấy 01 vam phá khóa là 01 thanh sắt hình chữ L mài dẹt một đầu có sẵn ở nhà, rồi quay lại dãy trọ dùng chiếc vam phá khóa chọc vào ổ khóa chiếc xe máy điện vặn theo c hiều kim đồng hồ để xe lên điện nhưng không được. Sau đó, C đã dắt bộ chiếc xe ra ngoài và đi tìm hàng sửa xe. C dắt bộ dọc bờ mương Máy Chai hướng sang bờ mương Đông Khê. Khi đi đến quán sửa xe ở tổ 30 cụm 5 phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng của ông Trần Văn Đthì C nhờ ông Đ đấu khóa điện chiếc xe để mang đi tiêu thụ. Khi ông Đ đang sửa xe thì Công an phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thấy C có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra và đưa C về trụ sở Công an phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để làm việc sau đó bàn giao C và tang vật đến Công an phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng lập biên bản phạm tội quả tang. Tại Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 25/KL-HĐ ngày 11/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền kết luận: 01 xe máy điện, nhãn hiệu Autosun Dibao, màu trắng: BKS 15MĐ1 -03696. Đến thời điểm bị xâm hại có giá 5.000.000đ.

Về vật chứng của vụ án: 01 xe máy điện, nhãn hiệu Autosun Dibao, màu trắng: BKS 15MĐ1-03696 của chủ sở hữu hợp pháp chị Nguyễn Thị H. Đối với 01 vam phá khóa là 01 thanh sắt hình chữ L mài dẹt, C dùng để phá khóa, trên đường đi C đã làm rơi không rõ ở đâu.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe máy điện, nhãn hiệu Autosun Dibao, màu trắng: BKS 15MĐ1-03696 (theo biên bản trả lại đồ vật ngày 06/8/2019) và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 09/10/2019, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Đình C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã được công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm .

Kiểm sát viên giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Đình C với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; về trách nhiệm dân sự: Đã thu hồi trả lại cho bị hại; về hình phạt bổ sung: K hông áp dụng hình phạt phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng s ự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

 + Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

+ Về sự vắng mặt của bị hại:

[2] Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ nhưng bị hại chị Nguyễn Thị H vắng mặt, đã được công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại chị Nguyễn Thị H.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản bắt phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 14h ngày 10/7/2019, bị cáo Vũ Đình C C đi qua dãy nhà trọ tại địa chỉ: Số 62/50/286 đường Lê Lai, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, C quan sát thấy cổng không khóa, nên đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Thị H là 01 xe máy điện, nhãn hiệu Autosun Dibao, màu trắng: BKS 15MĐ1-03696, theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 25/KL-HĐ ngày 11/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền kết luận: 01 xe máy điện, nhãn hiệu Autosun Dibao, màu trắng: BKS 15MĐ1-03696. Đến thời điểm bị xâm hại có giá 5.000.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu t hành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo Vũ Đình C có 01 tiền án năm 2001 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích và 01 tiền sự năm 2017 bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc chưa được xóa, nay lại phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết "Tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân bị cáo:

[6] Bị cáo có 02 tiền án năm 1988, 1990 mặc dù đã được xóa án , nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu coi thường pháp luật. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Bị cáo Vũ Đình C khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Hội đồng xét xử xét bị cáo Vũ Đình C không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng của vụ án:

[9] Đối với chiếc vam Vũ Đình C dùng để phá khóa hình chữ L mài dẹt, trên đường đi Vũ Đình C đã làm rơi không rõ ở đâu nên cơ quan Cánh sát điều tra không thu hồi được.

- Về trách nhiệm dân sự:

[10] Bị hại chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xét.

[11] Trong vụ án này, ông Trần Văn Đlà thợ sửa xe máy điện cho Vũ Đình C, nhưng ông Đ không biết chiếc xe trên do C trộm cắp được, cũng không hứa hẹn giúp sức cho C, nên Cơ quan Công an không có căn cứ để xử lý.

- Về án phí:

[12] Bị cáo Vũ Đình C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[13] Bị cáo Vũ Đình C, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Đình C 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 14 tháng 9 năm 2019.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Vũ Đình C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Vũ Đình C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2019/HS-ST ngày 06/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:73/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về