Bản án 73/2017/HSST ngày 26/12/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 73/2017/HSST NGÀY 26/12/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 26 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 67/2017/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo:

Bùi Đăng M, sinh năm 1992; Trú tại: khu 8, xã P, huyện T - tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Bùi Lâm A, sinh năm 1958 và bà Lưu Kim L, sinh năm 1961; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bị hại: Bà Hạ Thị S, sinh năm 1962 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Trần Văn Trường G (con bà Sơn), sinh năm 1999; Trú tại: thôn 5, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Bích P, sinh năm 1987;

Trú tại: xã T, huyện S, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Bùi Đăng M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18h30 ngày 21/7/2017, Bùi Đăng M, có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 04/02/2013 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29T6 - 0693 đi từ khu công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội về nhà ở xã P, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đến 19h30 cùng ngày, M điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 55km/h đi bên phải đường theo hướng đi của M đến đoạn đường km 48 +100 Quốc lộ 2A thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thì nhìn thấy bà Hạ Thị S đang điều khiển xe đạp ở phía trước cùng chiều với M và đi ở phần đường dành cho xe thô sơ. Do không chú ý quan sát đối với người và các phương tiện đang tham gia giao thông khác, không làm chủ tốc độ và không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước nên xe mô tô do M điều khiển đã đâm vào giá đèo hàng và bánh sau xe đạp do bà S điều khiển làm xe đạp, xe mô tô đổ văng xuống đường, bà S bị ngã đập đầu xuống nền đường. Hậu quả bà Hạ Thị S bị thương nặng được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc rồi chuyển đến Bệnh viện hữu nghị Việt Đức Hà Nội điều trị đến 04 giờ 20 phút ngày 22/7/2017 thì tử vong. Bùi Đăng M bị thương nhẹ, xe đạp và xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Sau khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vĩnh Tường phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện xác định:

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ án là đoạn đường thuộc km 48 + 100 đường Quốc lộ 2A thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Mặt đường được trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng rộng 11m, có vạch sơn trắng đứt quãng chia mặt đường thành 02 làn đường riêng biệt, cách mỗi bên mép đường 1,90m về phía lòng đường có vạch sơn trắng chia làn đường dành cho xe thô sơ, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn, hai bên đường là lề đường và khu dân cư. Đoạn đường cong cua về bên phải theo hướng từ thành phố Vĩnh Yên đi thành phố Việt Trì. Chọn cột điện số 36 bên phải đường theo chiều từ thành phố Vĩnh Yên đi thành phố Việt Trì làm cột mốc chuẩn, chọn mép đường bên phải theo hướng thành phố Vĩnh Yên đi thành phố Việt Trì làm mép chuẩn để tiến hành khám nghiệm. Tại hiện trường phát hiện phương tiện, dấu vết cụ thể như sau: Cột điện số 36 cách trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 29T6 - 0693 là 11,50m, cột điện cách mép đường là 2,40m. Vết phanh ký hiệu (1) cách mép đường phải là 1,83m. Đám vết cày ký hiệu là (2) kích thước 16,63m x 0,10m có chiều hướng từ thành phố Vĩnh Yên đi thành phố Việt Trì, điểm gần nhất của đầu (2) cách mép đường phải là 1,83m, cuối (2) tại bàn để chân người điều khiển bên trái xe mô tô và cách mép đường bên phải là 1,30m. Đo từ đầu (2) cách cuối (1) là 3,10m. Xe đạp nam màu sơn xanh bị đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng đi thành phố Vĩnh Yên, đuôi xe hướng đi thành phố Việt Trì, từ trục bánh trước xe đến mép đường bên phải là 0,50m, trục bánh sau xe đến mép đường phải là 0,35m. Xe mô tô biển kiểm soát 29T6 - 0693 bị đổ nghiêng bên trái xuống nền đường, đầu xe hướng đi thành phố Vĩnh Yên, đuôi xe hướng đi thành phố Việt Trì, từ tâm trục bánh trước cách mép đường bên phải là 1,60m, trục bánh sau cách mép đường bên phải là 1,05m, trục bánh trước cách trục bánh sau xe đạp là 2,90m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô biển kiểm soát 29T6 - 0693, nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn nâu sau khi va chạm để lại các dấu vết mới như sau: Xe không có gương chiếu hậu bên trái, bên phải. Đầu tay lái bên trái có vết mài mòn cao su kích thước 2,5cm x 1,5cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 99cm. Đèn pha phía trước bị vỡ, kích thước 15cm x 10cm, khung sắt bảo vệ đèn pha bị móp lõm kích thước 10cm x 02cm, theo chiều từ trước về sau, vị trí thấp nhất của vết lõm này cách mặt đất 101cm. Giỏ đèo hàng phía trước bị cong vặn, móp méo, kích thước 40cm x 15cm theo chiều từ trước về sau, vị trí thấp nhất cách mặt đất 71cm. Đầu cung chắn bùn phía trước bánh trước bị dập vỡ nhựa kích thước 11cm x 01cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 56,5cm, mặt ngoài bên trái đầu cung chắn bùn này có vết trượt xước nhựa kích thước 06cm x 03cm theo chiều từ trước về sau, vị trí thấp nhất cách mặt đất 61 cm, vị trí gần nhất cách đầu cung chắn bùn này là 14cm. Mặt ngoài càng giảm xóc phía trước bên trái có vết trượt xước kim loại kích thước 08cm x 02cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 20cm. Bàn để chân người lái bên trái bị cong theo chiều trừ trước về sau, đầu bàn để chân này bị trượt xước mài mòn kim loại, kích thước 1,5cm x 1,5cm theo chiều trừ trước về sau, vị trí thấp nhất cách mặt đất 29cm. Mặt ngoài đầu bàn đạp số phía trước có vết trượt xước kim loại kích thước 01cmx 0,5cm theo chiều từ trước về sau, vị trí thấp nhất cách mặt đất 25cm. Hệ thống lái, phanh, ga còn tác dụng.

Xe đạp nam màu sơn xanh, sau khi va chạm để lại các dấu vết sau: Giá đèo hàng phía sau xe bị cong từ trái qua phải làm khung thanh sắt tiếp xúc với vành bánh xe, vành bánh xe phía sau bị cong vặn gãy kim loại kích thước 25cm x 15cm, tâm vết gãy này cách trục bánh xe phía sau bên trái 10cm, các nan hoa gãy rời khỏi vành bánh xe. Càng xe bánh sau bên phải bị cong gập tạo thành 01 góc 90 độ theo chiều từ sau về trước kích thước 35cm x 05cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 28cm. Lốp xe, săm xe bánh sau bị bung rời khởi vành bánh xe. Thanh sắt phía sau đỡ chắn bùn bánh sau bị cong vặn từ phải qua trái, từ sau về trước kéo cung chắn bùn tiếp xúc với bánh xe. Hệ thống phanh không còn tác dụng.

Kết quả khám nghiệm tử thi xác định: Hốc mắt bên phải sưng nề cuồng tím, hai nhãn cầu không bị dập vỡ. Tại vùng trán bên phải có vết xây sát da, sưng nề bầm tím, kích thước 05 x 04 cm. Vùng chẩm trái có vết sưng nề tụ máu, kích thước 09 x 08 cm. Các nơi khác trên cơ thể không có dấu vết tổn thương gì. Tiến hành rạch da cơ vùng trán phải thấy: Tổ chức cân cơ dưới da bầm dập tụ máu dữ dội, xương hộp sọ vùng này dập nứt lún vào trong.

Ngày 24/7/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 157, kết luận: “Dấu hiệu chính qua giám định: Nhiều vết xây sát da, bầm tím, sưng nề. Chấn thương sọ não nặng, xương trán phải dập nứt lún xuống. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não nặng không hồi phục”.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi điều khiển xe mô tô gây tai nạn, hậu quả bà S tử vong, Bùi Đăng M đã tự nguyện bồi thường số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho gia đình bà Hạ Thị S. Anh Trần Văn Trường G là con duy nhất của bà S đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Bùi Đăng M.

Tại bản Cáo trạng số: 69/KSĐT-TA ngày 13 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Bùi Đăng M về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Bùi Đăng M và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo M từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Bùi Đăng M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi cùng các tang vật, tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19h30 ngày 21/7/2017, Bùi Đăng M, có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 04/02/2013 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29T6 - 0693 với tốc độ khoảng 55km/h đi bên phải đường từ khu công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội về nhà ở xã P, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đến đoạn đường km 48 +100 Quốc lộ 2A thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thì nhìn thấy bà Hạ Thị S đang điều khiển xe đạp ở phía trước cùng chiều với M và đi ở phần đường dành cho xe thô sơ. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước nên xe mô tô do M điều khiển đã đâm vào giá đèo hàng và bánh sau xe đạp do bà S điều khiển làm xe đạp, xe mô tô đổ văng xuống đường, bà S bị ngã đập đầu xuống nền đường. Hậu quả bà Hạ Thị S bị thương nặng được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc rồi chuyển đến Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, Hà Nội điều trị đến 04 giờ 20 phút ngày 22/7/2017 thì tử vong. Bùi Đăng M bị thương nhẹ, xe đạp và xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Hành vi điều khiển xe môtô không chú ý quan sát đối với người và các phương tiện đang tham gia giao thông khác, không làm chủ tốc độ và không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước của M đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; vi phạm Điều 4, Điều 11 Thông tư số 13/2009/TT- BGTVT ngày 17/7/2009 của Bộ Giao thông vận tải quy định về giữ khoảng cách an toàn giữa các xe khi tham gia giao thông đường bộ đã gây hậu quả làm chết 01 người. Căn cứ hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 2 Chương I của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28 tháng 8 năm 2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông thì hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoăc gây hâu qua nghiêm trong”.

Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Bùi Đăng M đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Xét tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng người khác, ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương.

Trước tình hình diễn biến phức tạp của các vụ tai nạn giao thông trong thời gian gần đây, mà nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành luật giao thông của những người điều khiển phương tiện giao thông còn kém. Do vậy, đấu tranh với các hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông nhằm thiết lập lại trật tự, an toàn cho xã hội là cần thiết.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại. Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Người đại diện hợp pháp của người bị hại cũng có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và làm căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ, không chịu tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tích cực động viên thăm hỏi và tự nguyện bồi thường số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho gia đình bà Hạ Thị S. Anh Trần Văn Trường G là đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về phần bồi thường thiệt hại. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ, xe mô tô biển kiểm soát 29T6 - 0693 là tài sản hợp pháp của chị Bùi Bích P (chị gái ruột của Bùi Đăng M) còn chiếc xe đạp là tài sản hợp pháp của bà Hạ Thị S nên cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chị P và xe đạp cho anh G. Chị P, anh G đã nhận lại xe, xin tự khắc phục sửa chữa hư hỏng và không có ý kiến đề nghị gì.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Đăng M phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Đăng M 01(một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng,  thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Bùi Đăng M cho Uỷ ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

Bị cáo Bùi Đăng M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.


67
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về