Bản án 73/2017/HSST ngày 18/09/2017 về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 73/2017/HSST NGÀY 18/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2017/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Công Đ - sinh năm: 1990 tại tỉnh Kon Tum. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Tổ 43, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 0/12. Con ông: Nguyễn Cường (chết) và bà: Nguyễn Thị Nga (sinh năm: 1959). Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/02/2012, bị Toà án nhân dân quận Liên Chiểu tuyên phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 02/02/2013.

Bị cáo bị tạm giam ngày 26/6/2017, hiện có mặt tại phiên tòa.

2. Lưu Văn T (B) - sinh ngày: 19/5/1996 tại thành phố Đà Nẵng. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Tổ 39, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ học vấn: 06/12. Con ông: Lê Kim Thường (hiện không rõ địa chỉ) và bà: Lưu Thị Bông (sinh năm: 1967). Tiền án: Chưa.

Tiền sự: - Tháng 02/2017, bị Công an phường Hoà Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi đánh nhau.

- Tháng 5/2017 bị Công an phường Hoà Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo tại ngoại, hiện có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Bà Đặng Thị M - sinh năm: 1962.  Địa chỉ: Tổ 70, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Hữu H - sinh năm: 1963; Địa chỉ: Tổ 79, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

3. Anh Nguyễn Thành L - sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tổ 104, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, có vợ là chị Lê Thị Bích L1 - sinh năm: 1994; Địa chỉ: Tổ 104, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Thành P - sinh năm: 1976; Địa chỉ: Số 557 A,  phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Anh Nguyễn Đình N - sinh năm: 1988; Địa chỉ: Số 697 T, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo Nguyễn Công Đ, Lưu Văn T (B) bị Viện kiểm sát nhân dân quận Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trong thời gian từ tháng 04/2017 đến tháng 06/2017, tại địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Công Đ đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản sau đó nhờ Lưu Văn T chở đi tiêu thụ, cụ thể:

Vụ 1: Rạng sáng ngày 02/4/2017, Nguyễn Công Đ đi bộ lang thang để tìm nhà nào sơ hở thì đột nhập trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực tổ 70, phường Hoà Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Đức phát hiện nhà bà Đặng Thị M không đóng cửa chính nên đột nhập vào nhà lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu trắng rồi tẩu thoát. Số tài sản này, Đức giữ sử dụng và đã làm mất, tài sản không thu hồi được.

Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu: 01 điện thoại Nokia màu đen trị giá 300.000đồng, 01 điện thoại Huawei màu trắng trị giá 1.800.000đồng. Tổng giá trị tài sản là 2.100.000đồng.

Vụ 2: Rạng sáng ngày 29/5/2017, Nguyễn Công Đ đi bộ đến khu vực tổ 79, phường Hoà Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện nhà bà Đậu Thị G khoá cửa bên ngoài nhưng không có ai bên trong, ngôi nhà này bà G đã giao cho ông Nguyễn Hữu H (là em rễ bà G trông coi, quản lý tài sản trong nhà) nên đi đến dùng tay mở cửa hông nhà bà G rồi đột nhập vào bên trong lấy trộm 01 ti vi Sony 40inch màu đen rồi tẩu thoát. Sau đó, Đ gặp và nói với Lưu Văn T chiếc ti vi nêu trên là Đ mới trộm được và nhờ T chở Đ đi tiêu thụ. Biết rõ đây là tài sản do Đ trộm cắp được mà có nhưng T vẫn đồng ý chở Đ đi. T dùng xe mô tô hiệu Honda Dream (không rõ biển kiểm soát do T mượn của một người bạn không rõ lai lịch) chở Đ đem tivi đến tiệm sửa chữa điện tử do anh Nguyễn Thành P bán với giá 2.800.000đồng. Số tiền này, Đ rủ T đi ăn uống và giữ lại để tiêu xài cá nhân không chia cho T. Chiếc tivi này anh P sau đó đã bán cho một người không rõ lai lịch với giá 3.300.000đồng thu lời 500.000đồng và đã tự nguyện giao nộp Cơ quan Điều tra. Tài sản không thu hồi được.

Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu: 01 ti vi Sony 40inch màu đen trị giá 5.000.000đồng.

Vụ  3:  Rạng  sáng  ngày  03/6/2017,  Nguyễn  Công  Đ  phát  hiện  nhà  anh Nguyễn Thành L đóng cửa chính nên đi đến dùng tay mở cửa chính rồi đột nhập vào bên trong trộm cắp 01 điện thoại hiệu Oppo F1s màu hồng, 01 điện thoại Iphone 5S màu trắng, 01 điện thoại hiệu Masstel màu đen. Sau đó, Đ điện cho T nói là trộm cắp được một số tài sản và nhờ T chở Đ đi tiêu thụ tài sản, T đồng ý dùng xe mô tô hiệu Honda Dream không rõ biển kiểm soát chở Đ đến tiệm điện thoại Anh Ngọc tại 697 Tôn Đức Thắng, quận Liên Chiểu do Nguyễn Đình N bán 01 điện thoại hiệu Oppo F1s màu hồng, 01 điện thoại Iphone 5S màu trắng với giá 1.400.000đồng rồi Đ rủ T đi ăn uống, số tiền còn lại Đ giữ lại để tiêu xài cá nhân không chia cho T. Sau đó anh N đã sửa chữa và bán 02 chiếc điện thoại nêu trên cho người khách không rõ lai lịch với giá 2.900.000đồng, thu lợi 1.500.000đồng và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra, chiếc điện thoại hiệu Masstel màu đen Đ giữ lại sử dụng và đã làm mất. Tài sản không thu hồi được.

Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu: 01 điện thoại Iphone 5S màu trắng trị giá 2.400.000đồng; 01 điện thoại hiệu Oppo F1s màu hồng trị giá 4.200.000đồng; 01 điện thoại hiệu Masstel màu đen trị giá 200.000đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 6.800.000đồng.

Ngày 21/6/2017, trong lúc Nguyễn Công Đ đang đi bộ lang thang tìm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản thì bị Công an phường Hoà Hiệp Bắc phát hiện, mời về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Công Đ, Lưu Văn T đã khai nhận hành vi  phạm tội của  mình.  Tổng  giá trị tài sản Nguyễn Công Đ trộm cắplà 13.900.000đồng, Lưu Văn T phạm pháp là 11.600.000đồng.

Vật chứng tạm giữ: Tiền Việt Nam 2.000.000đồng; 01 con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 20cm, lưỡi màu trắng, cán màu xám; 01 đôi bao tay bằng vải màu xám.

Tại bản cáo trạng số 84/KSĐT, ngày 30/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Công Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điểu 138 Bộ luật hình sự; Lưu Văn T (B) về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

+ Đối với bị cáo Nguyễn Công Đ: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam.

+ Đối với bị cáo Lưu Văn T (B): Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 1 tháng đến 18 tháng tù giam.

* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 42 Bộ luật hình sự. Tuyên: Buộc Nguyễn Công Đ phải bồi thường cho các người bị hại giá trị thiệt hại như sau: Bà Đặng Thị M 01 điện thoại Nokia màu đen trị giá 300.000đồng, 01 điện thoại Huawei màu trắng trị giá 1.800.000đồng, tổng cộng: 2.100.000đồng; ông Nguyễn Hữu H 01 ti vi Sony 40inch màu đen trị giá 5.000.000đồng

Còn chị Lê Thị Bích L1 là vợ của anh Nguyễn Thành L không yêu cầu Nguyễn Công Đ bồi thường giá trị tài sản bị mất cắp nên không đề cập đến.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu sung công quỹ 2.000.000đồng Nguyễn Đình N, Nguyễn Thành P giao nộp tiền thu lợi bất chính.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 20cm, lưỡi màu trắng, cán màu xám; 01 đôi bao tay bằng vải màu xám.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Công Đ, Lưu Văn T (B) đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Công Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự; bị cáo Lưu Văn T (B) đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự, mọi hành vi xâm phạm đều phải bị xử lý. Bị cáo Nguyễn Công Đ có nhân thân xấu, ngày 15/02/2012 đã bị Toà án nhân dân quận Liên Chiểu xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt không lấy đó làm bài học, tu dưỡng rèn luyện bản thân ngược lại do xem thường pháp luật, muốn có tiền ăn chơi tiêu xài mà không phải từ lao động chính đáng nên đã liên tiếp thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản. Trong thời gian từ tháng 04/2017 đến tháng 06/2017, trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng bị cáo Nguyễn Công Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp của bà Đặng Thị M 01 điện thoại Nokia màu đen trị giá 300.000đồng, 01 điện thoại Huawei màu trắng trị giá 1.800.000đồng; của ông Nguyễn Hữu H 01 ti vi Sony 40inch màu đen trị giá 5.000.000đồng; của anh Nguyễn Thành L 01 điện thoại Iphone 5S màu trắng trị giá 2.400.000đồng; 01 điện thoại hiệu Oppo F1s màu hồng trị giá 4.200.000đồng; 01 điện thoại hiệu Masstel màu đen trị giá 200.000đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Công Đ chiếm đoạt là 13.900.000đồng.

Đối với bị cáo Lưu Văn T dù biết rõ tài sản là do bị cáo Nguyễn Công Đ trộm cắp được mà có nhưng khi được Đ nhờ chở đi tiêu thụ, T vẫn đồng ý và chở Đ đi tiêu thụ 01 ti vi Sony 40inch màu đen, 01 điện thoại Iphone 5S màu trắng, 01 điện thoại hiệu Oppo F1s màu hồng. Tổng giá trị tài sản Lưu Văn T phạm pháp là 11.600.000 đồng.

Hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Công Đ cũng như việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đối với Lưu Văn T đã trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nói chung cũng như tại địa phương nói riêng. Do đó, đối với các bị cáo cần phải xử phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Song xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo khi lượng hình.

Các bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, nhân thân của các bị cáo xấu nên Hội đồng xét xử cần phải cách ly ra ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt.

* Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại gồm:

+ Bà Đặng Thị M vắng mặt nhưng tại hồ sơ yêu cầu bị cáo Nguyễn Công Đ phải bồi thường giá trị 01 điện thoại Nokia màu đen với số tiền 300.000đồng, 01 điện thoại Huawei màu trắng trị giá 1.800.000đồng, tổng cộng: 2.100.000đồng.

+ Người bị hại ông Nguyễn Hữu H yêu cầu bị cáo Nguyễn Công Đ phải bồi thường giá trị 01 ti vi Sony 40inch màu đen với số tiền 5.000.000đồng.

+ Chị Lê Thị Bích L1 là vợ của anh Nguyễn Thành L không yêu cầu Nguyễn Công Đ bồi thường tài sản bị mất cắp.

Xét thấy, yêu cầu bồi thường của những người bị hại gồm bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Công Đ phải bồi thường cho bà Đặng Thị M số tiền 2.100.000đồng, ông Nguyễn Hữu H số tiền 5.000.000đồng. Còn chị Lê Thị Bích L không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

+ Tịch thu sung công quỹ số tiền thu lợi bất chính 2.000.000đồng của Nguyễn Đình N, Nguyễn Thành P giao nộp (trong đó của Nguyễn Thành P 1.500.000đồng, của Nguyễn Đình N 500.000đồng).

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 20cm, lưỡi màu trắng, cán màu xám; 01 đôi bao tay bằng vải màu xám.

Ngoài ra Nguyễn Công Đ còn khai nhận vào thời điểm trước Tết Âm lịch 2017, Đ còn trộm cắp tại một nhà dân không nhớ rõ địa điểm 01 chiếc điện thoại không rõ hiệu rồi nhờ Lưu Văn T chở đi bán cho một tiệm điện thoại không nhớ địa chỉ với giá 800.000 đồng. Đối với trường hợp này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Trong vụ án có:

- Anh Nguyễn Thành P và anh Nguyễn Đình N có hành vi mua xe điện thoại từ Nguyễn Công Đ, tuy nhiên cả hai đều không biết đây là tài sản do Đ trộm cắp được mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.

- Đối với người cho Lưu Văn T mượn xe mô tô hiệu Honda Dream không rõ biển kiểm soát và T sử dụng xe này chở Nguyễn Công Đ đi tiêu thụ tài sản, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch và biển kiểm soát xe nên sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

* Về án phí:

+ Án phí hình sự sơ thẩm: Nguyễn Công Đ, Lưu Văn T (B) mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng.

+ Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyễn Công Đ phải chịu 355.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lưu Văn T (B) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

1. Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt: Nguyễn Công Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/6/2017.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 250; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự

+ Xử phạt: Lưu Văn T (B) 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 42 Bộ luật Hình sự. Tuyên:

Buộc Nguyễn Công Đ phải bồi thường cho những người bị hại: Bà Đặng Thị M số tiền 2.100.000đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng); ông Nguyễn Hữu H số tiền 5.000.000đồng (năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải chịu tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

+ Tịch thu sung công quỹ 2.000.000đồng (hai triệu đồng) của Nguyễn Đình N, Nguyễn Thành P giao nộp (trong đó của Nguyễn Đình N 500.000đồng, của Nguyễn Thành P 1.500.000đồng).

+ Tịch thu và tiêu huỷ 01 (một) con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 20cm, lưỡi màu trắng, cán màu xám; 01 (một) đôi bao tay bằng vải màu xám.

(Vật chứng hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận, vật chứng ngày 30/8/2017).

5. Về án phí:

+ Án phí hình sự sơ thẩm: Nguyễn Công Đ, Lưu Văn T (B) mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

+ Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyễn Công Đ phải chịu 355.000đồng (ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) trích sao bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người  được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


180
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2017/HSST ngày 18/09/2017 về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:73/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về