Bản án 72/2018/DS-ST ngày 30/11/2018 về tranh chấp kiện đòi tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 72/2018/DS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2018/TLST- DS, ngày 17 tháng 9 năm 2018 về tranh chấp “Kiện đòi tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108a/2018/QĐXX - ST, ngày 12 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm: 1974; Địa chỉ: ấp Kinh B, xã Thạnh Đ, huyện T, tỉnh KG (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng Q (tên khác Lê Phúc Á), sinh năm: 1963; Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn G, huyện R, tỉnh KG (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Mỹ D, sinh năm: 1974;

Địa chỉ: ấp Kinh B, xã Thạnh Đ, huyện T, tỉnh KG (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/8/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Dương Văn T trình bày:

Giữa ông và ông Q do chỗ quen biết làm ăn chung nên có thỏa thuận cùng nhau hùn mua tràm cừ về bán lại. Ông Q có ghe còn ông bỏ vốn, ông giao cho ông Q làm 03 lần tiền; lần thứ nhất tại nhà máy Hải N do ông không có tiền nên có mượn của vợ chồng ông Đ và bà D là 30.000.000 đồng bạn làm ăn chung, ông Đ và bà D giao cho ông Q số tiền này; lần 02 cách lần đầu khoảng 04 ngày ông và ông Q cùng nhau chạy ghe xuống tỉnh C mua tràm, khi đi ông mang theo 40.000.000 đồng ông trả tiền tràm được 26.100.000 đồng, sau khi trả xong còn lại 13.900.000 đồng ông giao cho ông Q. Như vậy, tổng cộng ông đã bỏ ra vốn là 70.000.000 đồng.

Khi hai bên mua được tràm chở đi bán thì không thỏa thuận được giá với người mua thì ông Q yêu cầu ông để lại cho ông Q giá 20.000 đồng/cây, ông đồng ý chở về cho ông Q dựa lại khi về tới nhà ông Q nói chưa có tiền trả hẹn thời gian bán được sẽ kêu ông qua lấy tiền. Nhưng tới ngày hẹn tôi đến yêu cầu trả nhiều lần ông không trả mà viết giấy nợ ngày 20/11/2016 (dl) và hẹn đến ngày 25/12/2017 (dl) sẽ trả đủ số tiền trên. Đến hẹn ông tiếp tục lại nhà ông Q đòi nợ thì ông Q trả cho được 1.500.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k quy ra thành tiền là 3.400.000 đồng và hẹn với tới tháng 02/2017 (dl) sẽ trả đủ số tiền còn lại. Đến ngày 02/02/2017 (dl) ông lại nhà thì ông Q chỉ trả được 20.000.000 đồng rồi không trả nữa nên ông mới làm đơn ra khu phố 8 yêu cầu giải quyết số tiền 50.000.000 đồng còn lại. Tại khu phố 8 ông Q chỉ thừa nhận thiếu ông 48.000.000 đồng, ông cũng đống ý, sau đó ông Q trả được thêm 17.500.000 đồng từ đó đến nay không trả nữa. Nay ông yêu cầu ông Q trả cho ông số tiền còn lại là 30.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Q trình bày: Ông xác nhận lời trình bày của ông T về quá trình hai bên hùn làm ăn với nhau hình thức mua tràm cừ về bán lại là đúng; Biên nhận ngày 25/12/2016 ông thừa nhận do ông viết và ký tên, sau khi ông T kiện ra Tòa ông về tính lãi sổ sách và phát hiện đã tính nhầm, ông chỉ nhận của ông T 49.610.000 đồng. Ông T cho rằng ông thỏa thuận mua tràm của ông T về bán lại là không đúng vì hai bên hùn với nhau nếu không bán được thì chở về vựa của ông bán được chia tiền lời. Do không bán được, ông T đòi quá nên ông viết giấy nhận nợ cho ông T là ông có mua cừ của ông T còn nợ 70.500.000 đồng. Khoản tiền ngày 11/9/2016 (dl) ông T cho rằng ông nhận của ông T từ tiền ông T mượn của vợ chồng ông Đ tại nhà máy Hải N 30.000.000 đồng là không đúng, ông chỉ nhận của ông T 10.000.000 đồng (mệnh giá500.000 đồng, có 20 tờ).

Ông đã trả cho ông T được 42.400.000 đồng nay ông chỉ còn nợ ông T số tiền7.210.000 đồng, nếu đồng ý ông trả mỗi tháng 1.000.000 đồng nếu không ông T cứ qua ông lấy tràm về.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Quá trình thụ lý vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành đúng theo quy định của pháp luật, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đương sự trong vụ án vàtiến hành các thủ tục tố tụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên đương sự. Các đương sự cũng chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồsơ vụ án, lời trình bày của đương sự tại phiên tòa hôm nay đối chiếu với các quy địnhcủa pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng nhận thấy như sau: Hai bênđã thống nhất với nhau số tràm mua 2.400 cây (1.740 cây x 15.000đ/cây và 660 cây x 16.000 đồng/cây) + chi phí dầu là: 39.600.000 đồng. Ông Q thừa nhận viết biên nhận cho ông T số tiền thiếu mua tràm 70.500.000 đồng. Số tiền ông Q trả cho ông T vàotháng 2/2017 là 20.000.000 đồng. Sau đó, ông Q cam kết tại phu phố 8 là số tiền cònthiếu ông T là 48.000.000 đồng, ông Q trả cho ông T thêm 17.500.000 đồng. Tại phiên tòa ông Q thừa nhận trước đây ông có nhận số nợ đó nhưng sau khi ông tính lại là tính nhầm yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho ông. Qua xem xét các tài liệu chứng cứ cótrong hồ sơ và tại phiên tòa hôm nay việc ông Q trình bày là không có căn cứ bởi lẽ ông là người ghi chép sổ sách và viết biên nhận cho ông T và cam kết thanh toán số tiền còn thiếu cho ông T. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét căn cứ vào khoản 4 Điều 11, khoản 1 Điều 275, Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu của ông T và buộc ông Q trả cho ông T số tiền còn thiếu là 30.500.000 đồng. Về án phí buộc ông Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khỏa 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện nên Tòaán nhân dân huyện Giồng Riềng thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúngtrình tự, thủ tục tố tụng.

[2]. Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T đối với ông Lê Hoàng Q về việc ôngT yêu cầu ông Q trả số tiền 30.500.000 đồng nhưng ông Q cho rằng chỉ còn nợ ông T số tiền 7.210.000 đồng.

{2.1} Qua xem xét các chứng cứ mà ông T cung cấp cho Tòa án và tại phiên tòahôm nay giữa ông T và Q thừa nhận với nhau về số tiền ông T cầm tiền đi mua tràm vàtiền lãi hai bên thỏa thuận cụ thể mua 2.400 cây tràm (1.740 cây x 15.000đ/cây và 660cây x 16.000 đ/cây) + chi phí mua dầu, tổng cộng là 39.600.000 đồng; tiền lãi 6.000.000 đồng; tiền công 400.000 đồng. Trước khi ông Q viết biên nhận nợ ngày 25/12/2016 ôngQ đã đưa cho ông T 4.900.000 đồng là tiền lãi từ bán tràm (trong đó 1.500.000 đồng tiềnmặt, 01 chỉ vàng 24K quy thành tiền là 3.400.000 đồng). Hai bên thống nhất với nhauvề số tràm lấy về không bán được và đem đến vựa của ông Q nhưng do ông Q không trảđược số tiền vốn ông T đã bỏ ra cho nên ông Q viết biên nhận nợ 70.500.000 đồng vào ngày 25/12/2016 và hẹn đến tháng 2/2017 trả đủ số tiền trên cho ông T. Sau đó, ông Qcó trả cho ông T 20.000.000 đồng, còn lại 50.000.000 đồng ông Q tiếp tục hứa nhưngkhông trả, bà D vợ ông T có làm tờ tường trình yêu cầu khu phố 8, thị trấn G giải quyết, tại đây ông T chỉ thừa nhận còn nợ của ông T 48.000.000 đồng, ông T cũng thống nhấtsố nợ này và ông Q tiếp tục cam kết đề ngày 19/7/2017 hứa trả dần mỗi tháng 5.000.000đồng, trong thời gian hứa trả thì ông Q trả cho ông T được 06 lần với số tiền 17.500.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay ông Q thừa nhận trước đây ông có viết biên nhận nợ với ôngT là 70.500.000 đồng nhưng sau khi tính toán lại thì nhầm lẫn số tiền lần đầu ông nhận của ông T chỉ có 10.000.000 đồng chứ không phải 30.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng lời trình bày trên của ông Q là không có cơ sở bởi lẽ trong quá trình hai bên hùn hạp mua tràm, ông Q là người ghi chép sổ sách, ông tự thỏa thuận và viết biên nhận nợ với ông T và cam kết trả số tiền còn thiếu cho ông T, mặt khác tại bản tự khai đềngày 8/10/2018 ông Q thừa nhận đã trả cho ông T 42.400.000 đồng và còn thiếu của ông T 25.600.000 đồng nhưng nay ông chỉ thừa nhận còn nợ 7.210.000 đồng, như vậy lời trình bày của ông Q không có sự thống nhất với nhau, ông nại ra lý do để nhằm trốntránh nghĩa vụ trả nợ, cho nên không có cơ sở để xem xét việc tính toán nhầm lẫn nhưông Q trình bày ở trên.

{2.2} Từ những phân tích trên cho thấy việc ông T khởi kiện yêu cầu ông Q trả số tiền còn thiếu 30.500.000 đồng là hoàn toàn căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 11, khoản 1 Điều 275, Điều 280 của Bộ luật dân sự. Ông T không yêu cầu tính lãi nên Tòa án không giải quyết.

Kể từ ngày ông Dương Văn T có đơn yêu cầu Thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Yêu cầu của ông Dương Văn T được chấp nhận nên không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Dương Văn T là 890.000 đồng theo biên lai thu tiền số7197 ngày 17/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng.

Ông Lê Hoàng Q phải chịu án phí giá nghạch 5% là: 30.500.000 đồng x 5% = 1.525.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 11, khoản 1 Điều 275, Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 1 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1- Chập nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T đối với ông Lê Hoàng Q.

Xử buộc ông Lê Hoàng Q phải trả cho ông Dương Văn T số tiền là 30.500.000 (ba mươi triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày ông Dương Văn T có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàngtháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí: Yêu cầu của ông Dương Văn T được chấp nhận nên không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Dương Văn T là 890.000 (tám trăm chín mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 7197 ngày 17/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng.

Ông Lê Hoàng Q phải chịu án phí giá nghạch 5% là: 1.525.000 (một triệu năm hai mươi lăm nghìn) đồng.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/11/2018).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hánh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành dân sự.


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 72/2018/DS-ST ngày 30/11/2018 về tranh chấp kiện đòi tài sản

Số hiệu:72/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Riềng - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về