Bản án 709/2017/HSPT ngày 19/10/2017 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 709/2017/HSPT NGÀY 19/10/2017 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 19 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 760/2016/TLPT ngày 04/10/2016 đối với các bị cáo Quàng Văn B và Quàng Văn H do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 121/2016/HSST  ngày 25/8/2016 Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

* Các bị cáo bị kháng cáo:

1. Quàng Văn B, sinh ngày 11/6/1996; ĐKHKTT tại: Bản L, xã C, huyện  Q, tỉnh  Sơn  La;  dân  tộc Thái; trình  độ văn hóa: lớp 6/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Quàng Văn C1 và bà Tòng Thị D; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 08/12/2015; (theo biên bản về việc bắt người BL 35); có mặt.

2. Quàng Văn H, sinh ngày 01/4/2000; ĐKHKTT tại: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; dân tộc Thái; trình độ văn hóa:  Lớp 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Quàng Văn C2 và bà Quàng Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 08/12/2015 (theo biên bản về việc bắt người BL 53); có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H: Ông Quàng Văn C2 (bố của bị cáo), sinh năm 1969; trú tại: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; có mặt.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông NBC, luật sư thuộc Đoàn Luật sưtỉnh Sơn La; có mặt.

* Người bị hại: Anh Bạc Cầm P, sinh năm 1996; trú tại: bản K, xã A,huyện Q, tỉnh Sơn La; đã chết.

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo: Ông Bạc Cầm D và bà Bạc Thị L; đều trú tại: bản K, xã A, huyện Q, tỉnh Sơn La; có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông NBV, luật sư của Văn phòng luật sư  T  thuộc  Đoàn luật sư tỉnh Sơn La; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi ăn cơm, uống rượu tại nhà Lò Văn N cùng bản xong, khoảng21 giờ 50 phút ngày 29/11/2015, Quàng Văn B, Quàng Văn H, Lường Văn Đ, Quàng Văn C3 và T1 đi bộ ra ngã ba đường Quốc lộ 6B thuộc khu vực bản L, xã C chơi. H và T1 vào trong lều bán hàng ở cạnh đường nằm; B, Đ và C3 đứng chơi bên lề đường. Trong lúc cả nhóm đang đứng chơi thì có hai chiếc xe máy đi từ hướng trung tâm huyện Q tới, xe thứ nhất do Bạc Cầm P điều khiển, ngồi sau là Lò Văn A; xe thứ hai do Lò Văn T2 điều khiển, ngồi sau là Ngần Văn T3, trú tại bản K, xã A, huyện Q. Khi điều khiển xe đi đến khu vực ngã ba, P và T2 đã cho xe đi sát vào chỗ nhóm của B đang đứng rồi dồn số, rú ga đi qua khoảng 50 mét thì dừng lại. Thấy vậy, B nói “Chúng mày đi xe kiểu gì đây”, rồi một mình đi về phía nhóm của P; P chửi B “Dân L bọn mày nhát như chó”, hai bên lời qua tiếng lại chửi nhau. Thấy B đi về phía nhóm của P thì H và T1 cũng đi theo, H cầm theo một thanh tre, T1 cầm một chiếc ống điếu làm bằng vỏ chai nước Lavie và mỗi người nhặt một hòn đá ném về phía nhóm của P nhưng không trúng vào ai. Thấy nhóm của B đi về phía mình, nhóm của P điều khiển xe đi thêm 20 m rồi dừng lại tiếp tục chửi nhau với nhóm của B. P nói giọng thách thức “Nếu giỏi thì chúng mày ra hết đây”, T2 và A nhặt mỗi người một hòn đá ném về phía nhóm của B rồi quay xe đi về hướng xã A. B bị hòn đá ném xuống đường bật lên trúng vào cẳng chân phải.

Do bị đau, B quay lại nói với H “Tao bị ném vào chân rồi, mày đợi ở đây, tao về lấy xe đuổi theo đánh bọn này”, B chạy về nhà Là Văn N ở gần đó, lấy chiếc xe máy của B quay lại bảo H lên xe. Khi lên xe, H có cầm theo một thanh tre dài khoảng 1,6 mét. B chở H đuổi theo nhóm của P đến đoạn đường rẽ vào bản R, xã C thấy có mấy hòn đá ở lề đường nên B dừng xe, bảo H nhặt lấy hòn đá mang theo. H xuống xe nhặt một hòn đá ở lề đường rồi lên xe. B tiếp tục điều khiển xe đuổi theo nhóm của P đến dốc O, thuộc bản V, xã C thì nhìn thấy xe của P và T2 đang đi phía trước. Lúc này, P điều khiển xe dừng lại bên lề đường phía bên phải theo chiều đi, gạt chân chống xuống, P và A ngồi trên xe, T2 điều khiển xe đi phía trước cũng dừng lại cách P khoảng 30 mét.

Ngay lúc đó, B điều khiển xe đi lên áp sát vào phía bên trái xe của P, khi đến gần cách khoảng 01 mét thì H ngồi phía sau xe của B rướn người lên, tay phải cầm hòn đá giơ lên ném một phát nhằm vào hai người theo hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới trúng vào vùng trán đỉnh thái dương bên trái P, làm P bị ngã đổ người về phía sau và ngã xuống đường, xe máy nghiêng sang bên phải đè lên người P và A. Thấy P bị thương ở đầu bất tỉnh, A gọi T2 và T3 quay lại đưa P đi cấp cứu tại Bệnh viện Q, sau đó chuyển bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La cấp cứu. Ngày 01/12/2015, Bạc Cầm P bị chết do vết thương quá nặng.

Quàng Văn B và Quàng Văn H sau khi ném hòn đá trúng vào đầu P đã tăng ga phóng xe về phía xã A, khi đến đường rẽ vào trường Tiểu học B thì dừng lại, H vứt thanh tre vào bờ rào gần đó rồi cùng B quay đầu xe đi về nhà. Khi đến đoạn đường P bị ném, thấy hòn đá H dùng ném vào đầu P rơi trên mặt đường nhựa, B dừng lại bảo H xuống nhặt hòn đá vứt đi, H xuống xe dùng chân gạt hòn đá ra lề đường rồi cả hai lên xe đi về nhà ngủ. Ngày06/12/2015, B và H bị Công an huyện Q bắt tạm giam.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 91/TT ngày 08/12/2015, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Sơn La kết luận nguyên nhân chết của Bạc Cầm P: “Chấn thương sọ não kín vỡ lún xương trán trái, đụng dập não thùy trái do va đập là nguyên nhân gây tử vong”.

Ông Quàng Văn C1 là bố đẻ của Quàng Văn B và ông Quàng Văn C2 là bố đẻ của Quàng Văn H đã bồi thường cho gia đình người bị hại được tổng số tiền là 30.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 19/VKS-P2 ngày 20/7/2016, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Quàng Văn B, Quàng Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2016/HSST ngày 25/8/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã:

1. Tuyên bố Quàng Văn B và Quàng Văn H phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm n khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Quàng Văn B 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 06/12/2015.

- Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 5 Điều 69; khoản 2 Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Quàng Văn H 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 06/12/2015.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 606, 610 Bộ luật dân sự, buộc các bị cáo Quàng Văn B, Quàng Văn H phải bồi thường tiếp cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Bạc Thị L và ông Bạc Cầm D, tổng số tiền là 129.170.000đ (một trăm hai mươi chín triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng). Theo phần mỗi bị cáo phải chịu số tiền là 64.585.000đ (sáu mươi tư triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/8/2016, người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Bạc Cầm D và bà Bạc Thị L kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường đối với hai bị cáo.

Ngày 04/4/2017 và ngày 14/4/2017, người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Bạc Cầm D và bà Bạc Thị L có đơn với nội dung Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã quyết định về phần trách nhiệm dân sự là đúng với quy định của pháp luật và đề nghị tăng hình phạt đối với hai bị cáo .

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm quy kết. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo không kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Quàng Văn H đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo.

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại là ông Bạc Cầm D và bà Bạc Thị L giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với cả hai bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi tóm tắt hành vi phạm tội của các bị cáo, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo của người đại diện bị hại có quan điểm như sau: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, xác định trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi trước. Án sơ thẩm đã xem xét một cách khách quan, nguyên nhân xảy ra vụ án nhân thân của các bị cáo, thái độ thành khẩn khai báo của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa để xét xử đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của những người đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 121/2016/HSST ngày 25/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Người bào chữa cho các bị cáo nêu quan điểm: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay đề nghị Hội đồng xét xử giữ y án sơ thẩm đối với các bị cáo vì các lý do sau: Trong vụ án này người bị hại đã vô cớ gây sự với các bị cáo trước, do tuổi đời của các bị cáo còn trẻ sống ở vùng lạc hậu, khó khăn, nhận thức pháp luật còn kém, phạm tội do bột phát. Ngay sau khi phạm tội các bị cáo đã luôn tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình; trước khi xét sơ thẩm đã cùng gia đình bồi thường được một phần cho gia đình người bị hại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của người bị hại có ý kiến như sau: Căn cứ vào hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nhưng án sơ thẩm lại áp dụng khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự để xử phạt đối với các bị cáo là chưa chính xác. Mặc dù trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi, nhưng đó chỉ là lỗi hành chính, không trực tiếp xâm phạm đến các bị cáo, chỉ vì những lý do rất nhỏ nhặt mà các bị cáo đã tước đi tính mạng của người bị hại. Án sơ thẩm xử phạt các bị cáo là chưa nghiêm vì trong vụ án này các bị cáo còn thể hiện tính côn đồ ở chỗ khi người bị hại đã bỏ đi nơi khác nhưng các bị cáo vẫn cố tình dùng xe máy đuổi theo. Trên đường đi các bị cáo đã tìm nhặt một viên đá dùng làm hung khí gây án. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất quyết liệt, cố tình cầm hòn đá ném trúng đầu anh P dẫn đến hậu quả anh P bị tử vong. Trong vụ án này, bị cáo Quàng Văn B là người đã thành niên nhưng đã cố tình rủ rê lôi kéo bị cáo Quàng Văn H là người chưa thành niên cùng phạm tội, ngay sau khi gây án các bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự xử tăng hình phạt đối với các bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của chính các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định pháp y, các vật chứng thu giữ được tại hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 29/11/2015, tại ngã ba đường Quốc lộ S, thuộc khu vực bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La có xảy ra việc mâu thuẫn, xô xát giữa nhóm Quàng Văn B, Quàng Văn H, Lường Văn Đ, Quàng Văn C3 và T1 với nhóm của Bạc Cầm P, Lò Văn A, Lò Văn T2 và Ngần Văn T3. Nguyên nhân của sự việc là do anh P điều khiển xe mô tô chở A; xe thứ hai do T2 điều khiển chở T3 đã cho xe đi sát vào chỗ nhóm của B đang đứng rồi dồn số, rú ga. Thấy vậy, B nói “Chúng mày đi xe kiểu gì đây”, rồi một mình đi về phía nhóm của P; P chửi B “Dân L bọn mày nhát như chó” và hai bên lời qua tiếng lại chửi nhau. Thấy B đi về phía nhóm của P thì H và T1 cũng đi theo, H cầm theo một thanh tre, T1 cầm một chiếc ống điếu làm bằng vỏ chai nước Lavie, mỗi người nhặt một hòn đá ném về phía nhóm của P nhưng không trúng vào ai. Thấy nhóm của B đi về phía mình, nhóm của P điều khiển xe đi thêm 20 m rồi dừng lại tiếp tục chửi nhau với nhóm của B. P nói giọng thách thức “Nếu giỏi thì chúng mày ra hết đây”, T2 và Anh nhặt mỗi người một hòn đá ném về phía nhóm của B rồi quay xe đi về hướng xã A. B bị hòn đá ném xuống đường bật lên trúng vào cẳng chân phải.

Do bị đau, B quay lại nói với H “Tao bị ném vào chân rồi, mày đợi ở đây, tao về lấy xe đuổi theo đánh bọn này”, B chạy về nhà Là Văn N ở gần đó, lấy chiếc xe máy của B quay lại bảo H lên xe, khi lên xe, H có cầm theo một thanh tre dài khoảng 1,6 mét. B chở H đuổi theo nhóm của P đến đoạn đường rẽ vào bản R, xã C thấy có mấy hòn đá ở lề đường nên B dừng xe, bảo H nhặt lấy hòn đá mang theo. H xuống xe nhặt một hòn đá ở lề đường rồi lên xe. B tiếp tục điều khiển xe đuổi theo nhóm của P đến dốc O, thuộc bản P, xã C thì nhìn thấy xe của P và T2 đang đi phía trước. Lúc này, P điều khiển xe dừng lại bên lề đường phía bên phải theo chiều đi, gạt chân chống xuống, P và A ngồi trên xe, T2 điều khiển xe đi phía trước cũng dừng lại cách P khoảng 30 mét. Ngay lúc đó, B điều khiển xe đi lên áp sát vào phía bên trái xe của P, khi đến gần cách khoảng 01 mét thì H ngồi phía sau xe của B rướn người lên, tay phải cầm hòn đá giơ lên ném một phát nhằm vào hai người theo hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới trúng vào vùng trán đỉnh thái dương bên trái Bạc Cầm P, làm P bị ngã đổ người về phía sau và ngã xuống đường, xe máy nghiêng sang bên phải đè lên người P và A. Thấy P bị thương ở đầu bất tỉnh, Lò Văn A gọi T2 và T3 quay lại đưa P đi cấp cứu tại bệnh viện Q, sau đó chuyển bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La cấp cứu. Ngày 01/12/2015, Bạc Cầm P bị chết do vết thương quá nặng.

[2] Do có hành vi như đã nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Quàng Văn B, Quàng Văn H về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm là đúng pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tước đoạt sinh mạng của người khác, gây mất trật tự trị an tại khu dân cư nên tòa án sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của những người đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá Quàng Văn B là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo Quàng Văn H là người chưa thành niên cùng thực hiện hành vi phạm tội; Quàng Văn H là người trực tiếp gây ra cái chết cho bị hại. Đánh giá tích chất nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, xét vai trò của các bị cáo trong vụ án ngang nhau là đúng.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng: Quàng Văn B phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự (xúi giục người chưa thành niên phạm tội).

[5] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ thật thà khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn, tuổi đời còn trẻ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã cùng với gia đình bồi thường cho gia đình người bị hại 30.000.000 đồng, đây là tình tiết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã vận dụng cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 do có ông nội của các bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đối chiếu với các quy định của pháp luật (người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng) Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là chưa chính xác.

[6] Xét về nguyên nhân dẫn đến vụ án này thấy nhóm của người bị hại là những người gây sự trước bằng cách điều khiển xe mô tô đi sát vào nhóm của B rồi dồn số, rú ga và nói những câu mang tính miệt thị nhóm của các bị cáo như “dân L chúng mày nhát như chó” và sau đó còn thách thức “nếu giỏi thì chúng mày ra hết đây”, rồi sau đó dùng đá ném xuống đường bật lên trúng vào cẳng chân Quàng Văn B từ đó dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nêu ở trên.

[7] Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 08 năm tù đối với Quàng Văn B và42 tháng tù đối với Quàng Văn H là đã đảm bảo tính răn đe riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay. Sau xét xử sơ thẩm, các bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo H đã nhận thức được hành vi sai trái của mình nên không làm đơn kháng cáo, thể hiện sự ăn năn hối hận và chấp hành quyết định của bản án sơ thẩm. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của những người đại diện hợp pháp cho người bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo.

[8] Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường, nhưng trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, những người đại diện hợp pháp của người bị hại đã rút kháng cáo về yêu cầu này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; khoản 3 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại về yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo; giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

[2] Tuyên bố Quàng Văn B và Quàng Văn H phạm tội “Giết người”.

[3] Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm n khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Quàng Văn B 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 08/12/2015.

[4] Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 5Điều 69; khoản 2 Điều 74 Bộ luật hình sự 1999, xử phạt bị cáo Quàng VănH 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam08/12/2015.

[5] Về án phí: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 121/HSST/2016 ngày25/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


194
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 709/2017/HSPT ngày 19/10/2017 về tội giết người

Số hiệu:709/2017/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/10/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về