Bản án 70/2020/HS-PT ngày 21/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 70/2020/HS-PT NGÀY 21/02/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Mở phiên tòa ngày 21/02/2020, tại trụ sở TAND tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2020/TLPT-HS ngày 09/01/2020 đối với bị cáo Trần Văn D. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 332/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 của TAND thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo kháng cáo:

TRẦN VĂN D, (tên gọi khác: TC), sinh năm 1979, tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Liên gia 16, Tổ dân phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Trần Văn R, đã chết và bà Võ Thị C, sinh năm 1958; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1992; có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2016).

Nhân thân: Ngày 23/3/2005, bị TAND tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/6/2019, tạm giam ngày 04/7/2019, hiện đang tạm giam, có mặt.

Trong vụ án còn có các bị cáo Phùng Tấn S, Trần Thị Tuyết T, Trần Văn L nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn D, Trần Thị Tuyết T và Trần Phi L đều nghiện chất ma túy. D, T và L mua ma tuý loại Heroine để bán một phần cho người có nhu cầu sử dụng kiếm lời, phần còn lại để sử dụng. Đầu tháng 6/2019, D mua 01 gói Heroine của một người đàn ông tên T (không xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 9.000.000đ, mang về nhà phân chia Heroine thành nhiều gói nhỏ và bán lại cho người khác với giá từ 50.000đ đến 200.000đ/gói. Sau đó, D rủ em dâu là Trần Thị Tuyết T tham gia bán ma tuý và thoả thuận trả tiền công cho T 300.000đ/ngày, T đồng ý. Hàng ngày D đưa cho T từ 30 đến 40 gói Heroine, T ngồi phía sau Hoa viên đường P, thuộc tổ dân phố 2, thành phố B để bán cho người nghiện ma tuý, đến chiều tối cùng ngày D đến lấy tiền. Sáng ngày 12/6/2019, D đưa cho T 40 gói Heroine đựng trong hộp nhựa hình ống màu đỏ, T mang Heroine đến Hoa viên đường P bán cho nhiều người, trong đó có Võ Minh T1. T1 cất giấu ma tuý trong người và trên đường trở về thì bị cơ quan điều tra bắt giữ. Đến 14 giờ cùng ngày, T bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột bắt giữ. Khám xét nơi ở của T, cơ quan điều tra thu giữ 29 gói Heroine đựng trong hộp nhựa và 02 gói Heroine đựng trong gói nylon.

Ngày 12/6/2019, Phùng Tấn S đã bán Heroine cho Võ Minh T1 và Nguyễn Văn B.

Sau khi biết T đã bị cơ quan điều tra bắt giữ, D đến nhà nghỉ M số 49/29/3 đường Y, thành phố B, thuê phòng trọ số 01 tiếp tục bán ma tuý. Tại đây, D mua một gói ma tuý đá của một người đàn ông không quen biết để sử dụng. Đêm ngày 22/6/2019, Trần Văn L đến nhà nghỉ M mua của Dũng 01 gói Heroine với giá 3.000.000đ để bán lại cho người khác. Trưa ngày 24/6/2019, L tiếp tục đến nhà nghỉ M mua của D 01 gói Heroine với giá 4.000.000đ để bán lại cho người khác. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, cơ quan điều tra bắt giữ L và thu giữ trong túi xách của L 07 gói ma tuý đựng trong hộp nhựa hình chữ nhật màu xanh và 11 gói ma tuý đựng trong hộp nhựa hình tròn.

Ngày 25/6/2019, cơ quan điều tra khám xét nơi ở của D tại nhà nghỉ M, D tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra 29 gói Heroine đựng trong vỏ bao thuốc lá và 01 gói nylon, 01 gói ma tuý đá.

Phùng Tấn S là anh em cùng mẹ khác cha với Trần Văn D. Ngày 12/6/2019, Sơn đã bán Heroine cho Võ Minh T và Nguyễn Văn B. Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của S và thu giữ 15 gói ma tuý. Quá trình điều tra xác định được 15 gói ma tuý thu giữ tại chỗ ở của S là của Trần Văn D mua về cất giấu, để bán lại cho người khác.

Bản kết luận giám định số: 492/GĐMT-PC09 ngày 20/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong 13 gói giấy bạc được niêm phong, có các chữ ký ghi tên Phùng Tấn S và Nguyễn Hồng N, gửi giám định là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 0,8312 gam. Chất rắn dạng cục màu trắng đựng trong 01 gói giấy màu trắng được niêm phong, có các chữ ký ghi tên Phùng Tấn S và Nguyễn Hồng N, gửi giám định là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 3,1278 gam. Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc được niêm phong, có các chữ ký ghi tên Phùng Tấn S và Nguyễn Hồng N, gửi giám định là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 0,0312 gam. Bản kết luận giám định số: 484/GĐMT-PC09 ngày 20/6/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất dạng cục màu trắng trong 29 gói giấy bạc, trong hộp nhựa màu đỏ được niêm phong, có điểm chỉ ngón trỏ phải của bà Trần Thị Thu H và ông Nguyễn Hồng N, gửi giám định là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 1,7902 gam. Chất dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc, đựng trong túi nylon được niêm phong, có điểm chỉ ngón trỏ phải của bà Trần Thị Thu H và ông Nguyễn Hồng N gửi giám định là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 0,2057 gam.

Bản kết luận giám định số: 350/GĐMT-PC09 ngày 01/7/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất bột màu trắng, đựng 18 gói giấy bạc được niêm phong, có các chữ ký ghi tên Trần Văn L và Nguyễn Hữu Đ gửi giám định là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 1,6226 gam.

Bản kết luận giám định số: 531/GĐMT-PC09 ngày 02/7/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng, dựng trong một gói nylon được niêm phong, có các chữ ký ghi tên Trần Văn D, Châu Phước M, Phan Trí K, Bùi Thị Thu H, gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 2,2120 gam; Chất rắn dạng cục màu trắng đựng trong 29 gói giấy bạc và 01 gói nylon gửi giám định là ma tuý, loại Heroin, có tổng khối lượng 7,2649 gam.

Bản án hình sự sơ thẩm sơ thẩm số: 332/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã áp dụng:

Các điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt: Trần Văn D 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt: Trần Văn D 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS. Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc Trần Văn D phải chấp hành hình phạt chung là 13 năm tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt Phùng Tấn S 07 năm 06 tháng tù; Trần Thị Tuyết T 08 năm 06 tháng tù, đều về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt Trần văn L 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”; xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 05/12/2019, bị cáo Trần Văn D có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn D khai nhận: Bị cáo nghiện chất ma tuý. Đầu tháng 6/2019, bị cáo mua 01 gói Heroine của một người đàn ông tên T1 với giá 9.000.000đ, mang về phân chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho người khác. Bị cáo nhờ Trần Thị Tuyết T là em dâu của bị cáo bán Heroine cho người khác và trả tiền công cho T 300.000đ/ngày. Sáng ngày 12/6/2019, bị cáo giao cho T 40 gói Heroine để bán cho người khác. Ngoài ra, bị cáo còn cất giấu 15 gói Heroine tại nơi ở của Phùng Tấn S là em của bị cáo, để bán cho người khác. Sau khi Trần Thị Tuyết T bị cơ quan điều tra bắt giữ, bị cáo đến nhà nghỉ M, số 49/29/3 đường Y, thành phố B, thuê phòng trọ để tiếp tục bán ma tuý. Ngày 22/6/2019, bị cáo bán cho Trần Văn L 01 gói Heroine với gia 3.000.000đ. Ngày 24/6/2019, bị cáo bán tiếp cho Trần Văn L 01 gói Heroine với gia 4.000.000đ; 29 gói Heroine mà cơ quan điều tra giữ tại phòng trọ của bị cáo là bị cáo mua của T1 để bán lại cho người khác; gói ma tuý đá, mà cơ quan điều tra giữ tại phòng trọ của bị cáo là bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết để sử dụng.

Tại phiên tòa đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk cho rằng: Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Trần Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Trần Văn D là thoả đáng và xem xét đầy đủ đến các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Xét lời khai của bị cáo Trần Văn D tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với vật chứng được thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2] Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Do động cơ vụ lợi, sáng ngày 12/6/2019, Trần Văn D đã đưa cho Trần Thị Tuyết Trang 1,9959 gam Heroine, để bán cho người khác và cất giấu tại nơi ở của Phùng Tấn S 3,9902 gam Heroine để bán cho người khác; Ngày 22/6/2019 và ngày 24/6/2019, Trần Văn D đã bán cho Trần Văn L 1,6226 gam Heroine; Trần Văn D còn cất giấu tại nơi ở 7,2649 gam Heroine để bán cho người khác và 2,2120 gam Methamphetamine để sử dụng; Tổng khối lượng Heroine mà Trần Văn D mua để bán cho người khác là 14,8736 gam.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Trần Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là phạm tội hai lần trở lên và mua bán Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam, theo các điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định tội là tàng trữ Methamphetamine, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Tần Văn D là thoả đáng và đã xem xét đầy đủ đến các tình tiết giảm nhẹ, cũng như nhân thân của bị cáo. Bị cáo bán trái phép chất ma tuý cho Võ Minh T và Trần Văn L nhưng Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS để xét xử bị cáo là thiếu sót, đã có lợi cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm ở địa phương. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

- Áp dụng các điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Xử phạt: Trần Văn D 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt: Trần Văn D 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS. Tổng hợp hình phạt 02 tội, buộc bị cáo Trần Văn D phải chấp hành hình phạt chung là 13 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 25/6/2019.

2. Về án phí: Bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


31
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 70/2020/HS-PT ngày 21/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

      Số hiệu:70/2020/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:21/02/2020
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về