TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 692/2018/HS-PT NGÀY 12/12/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 12 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 481/2018/TLPT-HS ngày 29 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Lý Kim L do có kháng cáo của bị cáo Lý Kim L kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2018/HS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lý Kim L (Tên gọi khác: B), sinh năm 1989 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Tổ 14, khu phố 1, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý A N (sinh năm 1957) và bà Lê Ngọc Phương L (sinh năm 1959); có vợ là Mai Thị Kim C (sinh năm 1987) và có 02 con chung (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị bắt ngày 04/5/2017 – Có mặt;
- Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu:
1. Luật sư Đào Công Tr và Luật sư Cao Đức Nh – Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai – Có mặt;
2. Luật sư Trần Minh H – Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt;
- Người bị hại:
1. Bà Trương Thị C, sinh năm 1960 – Có mặt;
2. Ông Châu Văn B, sinh năm 1957 – Có mặt;
Cùng địa chỉ: ấp S, thị xã L, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Ngọc Phương L, sinh năm 1959 – Có mặt;
Địa chỉ: Tổ 14, khu phố 1, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.
2. Bà Lý Kim O, sinh năm 1985 – Có mặt;
Địa chỉ: ấp Q, xã Q1, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.
3. Bà Châu Thị Phương Th, sinh năm 1984 – Có mặt;
Địa chỉ: Khu phố 3, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai.
4. Bà Châu Thị Mỹ D, sinh năm 1980 – Có mặt;
Địa chỉ: Ấp S, xã S, thị xã L, tỉnh Đồng Nai.
5. Bà Mai Thị Kim C, sinh năm 1987 – Có mặt;
Địa chỉ: Tổ 10, khu phố 1, Thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 30/4/2017, Lý Kim L mang theo 02 điện thoại di động hiệu Nokia (01 chiếc màu đen có số imei 358016035555725, số sim 01283211545; 01 chiếc màu xanh có số imei 35192805388445, số sim 01217631929) và điều khiển xe mô tô biển số 60B8-555.38 chở vợ là Mai Thị Kim C đi từ thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai đến thị xã L, tỉnh Đồng Nai để xem ai sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp. Khi chạy xe ngang qua nhà bà Trương Thị C, ngụ tại số 161, ấp S, xã S, thị xã L, L nhìn thấy nhà khóa cổng ngoài, không người trông coi nên L chở C đến lô cao su cách nhà bà C khoảng 55 mét dừng xe mô tô tại đây và đưa cho C chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh. L đi bộ đến nhà bà C và leo tường vào sân vườn thì chó nhà bà C sủa, nên L nhặt đá ném vào chuồng để chó sợ và không sủa. L dùng các vật dụng đá, cây sắt hộp dài 1,1 mét và 01 con dao chặt củi nhặt ở vườn đập phần kính cửa sổ để chui vào nhà nhưng kính không bể. L nhìn thấy ô thông gió nhà vệ sinh làm bằng thủy tinh, nên lấy chiếc ghế inox cao 1,50 mét kê trèo lên và dùng cục đá kích thước 13cm x 12cm x 15cm đập bể những viên bông gió, dùng tua vít (mang theo) mở khung sắt bảo vệ chui vào nhà. L đến nhà bếp lấy ghế có nệm da đặt phía dưới ô thông gió và lấy 01 cái khăn trong nhà vệ sinh đặt lên các viên bông gió vừa đập bể để khi trèo ra không bị trầy xước. L đi vào phòng ngủ ông Châu Văn B (chồng bà C) nhìn thấy 01 két sắt đã khóa, nên L trèo ra ngoài đến chỗ C đứng lấy xe mô tô chạy đến tiệm bán vật liệu xây dựng C 2 tại ấp N, xã S, thị xã L mua của bà Nguyễn Thị Nguyệt 01 cây xà beng dài 1,4 mét với giá 140.000 đồng, quay lại luồn xà beng vào trong vườn nhà bà C và giao xe cho C trông giữ.
Sau đó L quay lại nhà bà C, lấy chăn và gối ôm kê két sắt để tránh tiếng động, đồng thời dùng con dao bằng sắt kích thước 45cm x 7cm lấy ở bếp nhà bà C cạy cánh cửa két sắt hở ra rồi dùng xà beng đục phá khóa két sắt lấy 09 lượng vàng SJC; 2.000 EUR (Hai nghìn Euro); 2.000 USD (Hai nghìn đô la Mỹ); 1.500 NDT (Một nghìn năm trăm nhân dân tệ). L tiếp tục dùng dao và xà beng cạy cửa phòng ngủ của bà C và dùng chăn gối ôm trên giường kê tủ gỗ và két sắt, dùng dao và xà beng đục phá khóa két sắt lấy 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng); 2.000 USD (Hai nghìn đô la Mỹ); 11 lượng vàng 24k; 1,5 lượng vàng trang sức 18k; 05 chỉ vàng 9999 và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng của bà C để trong tủ quần áo. Sau đó L rửa xà beng, lấy 02 xô nước dội lên 02 két sắt để xóa dấu vết. Toàn bộ số tài sản trộm được, L bỏ vào 01 cái túi giấy và chui ra bằng lỗ thông gió rồi đến chỗ C lấy xe, cột túi giấy đựng tài sản vào ba ga phía trước xe mô tô rồi chở C về nhà. Đến ngày 04/5/2017, L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai phát hiện bắt giữ xử lý.
Số tài sản lấy trộm, L khai nhận đã sử dụng như sau: L sử dụng tiêu xài một số tiền Việt Nam, số còn lại L gói lại chôn giấu tại chân bờ tường sân gôn Tr, huyện Tr; vàng và ngoại tệ L gói lại gửi cho Lý Kim O (chị gái của L), địa chỉ 2094 ấp Q2, xã Q1, huyện Tr; điện thoại Iphone 6 màu vàng L đưa cho C vào ngày 02/5/2017. Ngày 04/5/2017, Cơ quan điều tra phát hiện C đang sử dụng chiếc điện thoại Iphone 6 của bà C nên mời C đến làm việc. C đã gọi điện thoại báo cho L biết, L nói C tháo sim và tắt điện thoại. Sau đó, L đem chiếc điện thoại và tiền Việt Nam trộm được ra khu vực bờ rào sân gôn Tr cất giấu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 7259/STC-HĐĐGTSTTHS ngày 19/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai kết luận:
- 2.000 EUR (Hai nghìn Euro); 4.000 USD (Bốn nghìn đô la Mỹ); 1.500 NDT (Một nghìn năm trăm nhân dân tệ) trị giá 145.005.235 đồng; - 09 lượng vàng SJC; 11 lượng vàng 24k; 1,5 lượng vàng trang sức 18k; 05 chỉ vàng 9999 trị giá 770.357.000 đồng;
- 01 điện thoại Iphone6 trị giá 6.100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 921.462.235 đồng.
Quá trình điều tra, bà Trương Thị C xác định số tiền và tài sản bị mất như trên, trong khi Lý Kim L khai nhận tổng số tiền và tài sản trộm cắp từ 500.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua các chứng cứ, tài liệu thu thập được nhận thấy lời khai của L không có cơ sở, mà có đủ căn cứ xác định số tiền và tài sản của bà C bị chiếm đoạt như trên.
Vật chứng và tài sản bị thu giữ gồm:
- Số tiền 17.600.000 đồng, trong đó: 9.000.000 đồng là tiền L trộm cắp; còn 8.600.000đ là tiền bà Phạm Thị Thủy, ngụ tại khu phố 1, thị trấn Tr, huyện Tr chuộc xe đã cầm cho L trước đó.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số Imei 358016035555725, số sim 01283211545 (L đã vứt bỏ sim); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh có số Imei 351928053884455, số sim 01217631929 L sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám, số Imei 35331207484013 của Lý Kim L; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, số Imei 352020072751615 của Mai Thị Kim C.
- 01 két sắt màu nâu đen hiệu Bauchen, kích thước 01m x 48cm; 01 két sắt màu xanh hiệu Daysafe, kích thước 86cm x 58cm; 01 khăn tắm màu xanh nhạt, kích thước 1,87m x 1,35m.
- 01 túi vải màu đỏ có dây rút, kích thước 6cm x 8cm, sau khi phạm tội L làm rơi trên sàn rửa bát.
- 01 xà beng bằng sắt tròn gân dài 1,4 mét, một đầu nhọn một đầu dẹp; 01 con dao bằng sắt kích thước 45cm x 7cm; 01 con dao cán gỗ kích thước 30cm x 7cm;
01 cây sắt hộp kích thước 1,1m x 0,08m x 0,04m; 01 cục đá kích thước 13cm x 12cm x 15cm L sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 áo khoác hiệu PTF màu ghi đồng, vải ka ki L mặc khi phạm tội.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 60B8-555.38, số khung C6H0EY040440, số máy 5C6H-040446 L sử dụng làm phương tiện phạm tội. Kết quả xác minh chiếc xe trên là tài sản của bà Lê Ngọc Phương L (mẹ của L), bà L không biết L sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội.
Đối với số tiền Việt Nam, vàng, ngoại tệ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng chiếm đoạt của bà C, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét những nơi cất giấu tài sản theo lời khai của Lý Kim L nhưng không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Trương Thị C yêu cầu bồi thường trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 1.092.500đ (Một tỷ không trăm chín mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng); thiệt hại tài sản do Lý Kim L cạy phá làm hư hỏng 02 két sắt, 01 tủ gỗ, các viên bông gió nhà vệ sinh và cánh cửa ra vào phòng ngủ là 12.400.000đ (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Lý Kim L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017)
3. Xử phạt bị cáo Lý Kim L 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2017.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định Ngày 30/7/2018 bị cáo Lý Kim L kháng cáo kêu oan, cho rằng mình không phạm tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lý Kim L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cho rằng mình không phạm tội.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục kêu oan cho rằng mình không phạm tội, nhưng căn cứ các chứng cứ thu giữ cho thấy: Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo Lý Kim L 13 (mười ba) năm tù vì tội trộm cắp tài sản là có căn cứ, không oan. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ y án sơ thẩm.
- Bào chữa cho bị cáo, các luật sư cho rằng:
Bị cáo có nhiều lời khai không thống nhất, cho thấy bị cáo bị ép cung, mớm cung trong quá trình lấy lời khai. Tại sao ta không nghĩ đây là kịch bản của điều tra viên? Quá trình nhận dạng, cũng không thực hiện đúng theo tố tụng, bản thân bị cáo trước đây bị thương cả hai tay không thể thực hiện việc di dời 2 két sắt, mỗi két nặng gần 200kg. Vết máu thu giữ tại nhà bị hại không trùng với máu của bị cáo, cơ quan điều tra chưa làm rõ việc này.
Về mặt tâm lý người đi trộm: bị cáo L không thể nào vô nhà, sau đó quay ra mua xà beng quay lại và cạy két sắt trong khi không có người cảnh giới. Khu vực này có nhiều camera nhưng không trích xuất để khẳng định bị cáo có mặt tại khu vực này trong thời gian đó. Lời khai của bị cáo L không phù hợp với diễn biến của vụ án, cho thấy có căn cứ bị cáo ngoại phạm.
Việc vợ bị cáo có sử dụng Iphone 6 có số imei trùng với số imei của bị hại để cho rằng là điện thoại của bị hại là không đúng, trong khi đó vợ bị cáo là chủ tiệm cầm đồ nên việc tháo sim thử máy là chuyện bình thường. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội, hoặc hủy án sơ thẩm để điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo phủ nhận các lời khai tại cơ quan điều tra, cho rằng mình không phạm tội. Nhân chứng Mai Thị Kim C (vợ bị cáo L) cũng phản cung cho rằng lời khai tại cơ quan điều tra là do bị ép cung, khai không đúng sự thật.
Căn cứ các chứng cứ có tại hồ sơ, Hội đồng xét xử thấy rằng cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ khách quan, lời khai nhân chứng, lời khai của người liên quan cho thấy Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo Lý Kim L phạm tội “trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan như bị cáo đã nêu. Thể hiện các chứng cứ khách quan sau:
[1] Từ ngày 04/05/2017 đến ngày 30/05/2017 bị cáo có 06 (sáu) bản cung lấy lời khai, 03 (ba) bản tự khai, 01 (một) bản tường trình do bị cáo viết, cùng sơ đồ địa điểm trộm do bị cáo vẽ, trong đó có nhiều bản cung có luật sư tham gia. Trong các tháng 6,7,8/2017 có 12 bản cung có luật sư và đại diện Viện kiểm sát tham gia, cho tiến hành đối chất giữa bị cáo - bị hại, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có chứng cứ lời khai nào cho thấy bị cáo bị bức cung nhục hình.
[2] Lệnh thu giữ điện tín cũng xác định được từ ngày 02/05/2017 đến ngày 04/05/2017 Mai Thị Kim C (vợ bị cáo) đã dùng sim điện thoại của C mang số 0933877535 gắn vào điện thoại Iphone 6 có số Imei 356956067434880 thực hiện 9 (chín) cuộc gọi và 06 (sáu) tin nhắn. Số điện thoại Iphone 6 mang số Imei trên là của bị hại Cúc. Nội dung thu giữ điện tín phù hợp với lời khai của Mai Thị Kim C tại cơ quan điều tra là điện thoại Iphone 6 của chị Cúc do bị cáo Lý Kim L đưa cho vợ bị cáo sử dụng điện thoại Iphone 6 liên lạc với chồng (bị cáo L) trước khi cơ quan Công an mời lên làm việc.
[3] Bản thân bị cáo đã trực tiếp dùng xà beng và dao để cạy két sắt, giám định dấu vết để lại trên két sắt trùng với xà beng đã nhận dạng.
Tất cả các chứng cứ trên đủ căn cứ buộc tội bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại Trương Thị C – Châu Văn B ở 161, ấp S, thị xã L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 30/4/2017.
Lập luận của các luật sư đưa ra không phù hợp với chứng cứ khách quan của vụ án nên không được chấp nhận. Từ những phân tích trên bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ y án sơ thẩm.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lý Kim L. Giữ y án sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lý Kim L (Tên gọi khác: B) 13 (Mười ba) năm tù về tội “trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2017. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: bị cáo Lý Kim L phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các nội dung khác của Quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án 692/2018/HS-PT ngày 12/12/2018 về tội trộm cắp tài sản
| Số hiệu: | 692/2018/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 12/12/2018 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về