Bản án 69/2017/HS-PT ngày 21/09/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 69/2017/HS-PT NGÀY 21/09/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2017/HSPT ngày 24 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Hữu D, sinh năm 1994; ĐKNKTT: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và chỗ ở: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1966 (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1969; Anh, chị, em ruột: có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án: 01 lần, ngày 12/4/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Nguyễn Cao Đ (tên thường gọi là C), sinh năm 1978;

Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1.Lê Thanh T, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt).

2.Phạm Văn M, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt).

3. Huỳnh Văn N, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt).

4.Nguyễn Thị Kim N (tên thường gọi là D), sinh năm 1970;

Địa chỉ: ấp Tân M, xã Tân L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt).

5. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị Kiều D (tên thường gọi là K), sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt).

2. Thái Tuấn K, sinh năm 2000. (vắng mặt). Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

3. Vi Thị Y, sinh năm 1999. (vắng mặt). Địa chỉ tạm trú: Ấp A, xã Tân A, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

4. Huỳnh Thanh T, sinh năm 2000. (vắng mặt). Địa chỉ tạm trú: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

5. Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1999. (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

6. Nguyễn Công T, sinh năm 1999. (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

NHẬN THẤY

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/10/2016, Trần Hữu D, Phạm Văn M; Huỳnh Văn N cùng ngụ ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và C, ngụ ở tỉnh Kiên Giang là bạn của D và 03 người thanh niên là bạn của C (D khai không biết họ, tên và địa chỉ cụ thể), sau khi nhậu ở quán karaoke T tại tổ N, ấp A, xã Tân An T, huyện Bình T (do chị Nguyễn Thị Kim N làm chủ) thì đến trước cửa quán lấy xe mô tô ra về. Lúc đó, người thanh niên (là bạn của C) lấy nhầm nón bảo hiểm của anh Lê Thanh T. Ngay lúc đó, anh Nguyễn Cao Đ (tên thường gọi là C) cũng từ quán Thái N ra lấy xe mô đi về, T phát hiện mất nón bảo hiểm nên nhìn xung quanh thì thấy người thanh niên (bạn của C đi nhậu chung với D) đang cầm nón bảo hiểm của anh T nên anh T đi lại và nói với người thanh niên là đã lấy nhầm nón bảo hiểm của anh (nón bảo hiểm của anh T có chữ Vương Hùng), nên anh T đòi lại nón. Lúc này, D lấy nón bảo hiểm của anh T đưa lại anh Đ để trả anh T. Anh Đ cầm nón bảo hiểm của T rồi chỉ cho người thanh niên đó xem trên nón có in chữ Vương Hùng thì bị người thanh niên lấy nhầm nón bảo hiểm của anh T nhào lại dùng tay đánh vào người của anh T, rồi xô T ra trước sân quán, thấy vậy N cũng nhảy vào dùng chân đạp vào anh Đ làm anh Đ té ngã xuống sân. Ngay sau đó, D, M và N dùng tay đánh nhiều cái vào người và mặt anh Đ. Trong lúc bị đánh, anh Đ làm rơi nón bảo hiểm nên D lượm nón bảo hiểm của T đánh nhiều cái vào vùng đầu của Đ (lúc này Đ có đội mũ bảo hiểm). Thấy vậy, 01 thanh niên (bạn của C) vào can ngăn làm Đ bị té ngã xuống nền gạch, làm rớt mũ bảo hiểm trên đầu. D tiếp tục cầm nón bảo hiểm của T nhào tới đánh nhiều cái vào đầu, vào trán của Đ, làm Đ bị thương rách da ở chân mày trái và được mọi người can ngăn, T và Đ đi lại quầy tính tiền của quán và đến ngồi nghỉ ở bộ ghế salon, D đi lại chỗ T, Đ đang ngồi và tiếp tục dùng ca nhựa đánh vào đầu của Đ, thì Đ cuối người xuống cắn vào đùi của D, D tiếp tục dùng ca nhựa đánh vào đầu của Đ làm ca nhựa bị bể, anh Đ bị thương ở môi dưới, D tiếp tục cầm chậu kiểng bằng sứ màu trắng định đánh Đ thì được mọi người can ngăn, chậu kiểng bị bể. Còn N và M cũng dùng tay đánh nhiều cái vào đầu của Đ. Rồi N quay sang cầm cái tô bằng kim loại (Inox) đánh 01 cái vào đầu của T. Khi đó M lấy 02 vỏ chai bai Sài Gòn chạy lại, dùng 01 vỏ chai bia đánh anh T, nhưng anh T dùng tay đở được, vỏ chai bia giăng vào tường bị bễ.

Lúc này, mọi người can ngăn, D, M, N và các bạn của D lên xe bỏ đi. Sau khi bị thương, ngày 17/10/2016, anh Đ và anh T đi khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ.

Ngày 19/10/2016, anh Đ làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với các đối tượng gây thương tích cho anh.

Ngày 25/10/2016, anh T làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với các đối tượng gây thương tích cho anh.

Ngày 09/11/2016 Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Vĩnh Long tiến hành giám định và kết luận tương tích anh Đ, anh T như sau (bút lục 19 đến 24) và trong quá trình điều tra, đã xác định được:

- Trần Hữu D dùng nón bảo hiểm và ca nhựa gây thương tích cho Nguyễn Cao Đ hai vết thương: chấn thương môi dưới kích thước 0,5 x 0,5cm. Tỷ lệ 0,5% và sẹo dài từ chân mày đến trán phải kích thước 3,5 x 0,3cm. Ảnh hưởng thẩm mỹ. Tỷ lệ 11%. Tỷ lệ chung là 11%.

- Phạm Văn M dùng tay, chân gây thương tích cho Nguyễn Cao Đ hai vết thương: Vết thương khuỷu tay trái kích thước 4,5 x 2,5cm. Tỷ lệ 1% và vết thương gối trái kích thước 3 x 2cm, 2 x 2cm và 3cm x 1,5cm. Tỷ lệ 2%. Tỷ lệ chung là 03%.

- Một thanh niên (bạn của C cùng nhậu chung với Duy) khi vào can ngăn thì Nguyễn Cao Đ bị té ngã: Vết thương khuỷu tay phải kích thước 4 x 2cm. Tỷ lệ 1%.

- Trong lúc Nguyễn Cao Đ bị té ngã thì có bị đánh trúng và bị thương: Sưng nề mặt sau đùi phải kích thước 15 x 4cm. Tỷ lệ: 0,5% nhưng không xác định được ai đã gây ra vết thương trên.

Đối với Phạm Văn M có hành vi dùng tay, chân đánh trúng vào người Nguyễn Cao Đ gây thương tích với tỷ lệ là 03%, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Nên ngày 13/02/2017, Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với M về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” với số tiền 2.500.000đ.

Đối với Huỳnh Văn N và các đối tượng khác (cùng nhậu chung với D nhưng D không biết họ tên, địa chỉ cụ thể). Sau đó, N bỏ trốn khỏi địa phương. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không mời làm việc được; khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2017/HSST, ngày: 18/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Bình Tân đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm a, b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

2. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự theo luật định.

Ngày 03/5/2017, bị cáo Trần Hữu D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm

Bị cáo D trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Vị đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm: án sơ thẩm xử bị cáo tội cố ý gây thương tích là đúng người, đúng tội. Xét đơn kháng cáo của bị cáo xét thấy: án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm p, b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. trong vụ án này hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, rất quyết liệt. Mặt khác, bản thân bị cáo còn có tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Do đó mức án 02 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với tình tiết giảm nhẹ tại phiên tòa phúc thẩm mà bị cáo đưa ra là không được áp dụng vì gia đình bị cáo không có trực tiếp thờ cúng liệt sĩ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo D. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B đã xử.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/10/2016, sau khi nhậu tại quán karaoke T thuộc ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Trong lúc ra về thì bạn của bị cáo D lấy nhầm nón bảo hiểm của anh Lê Thanh T (T đi cùng với bị hại Nguyễn Cao Đ). Khi phát hiện lấy nhầm nón bảo hiểm, bị cáo D trả lại nón bảo hiểm cho anh T thì người lấy nhầm nón bảo hiểm là bạn của D (chưa xác định được họ, tên và địa chỉ) dùng tay đánh anh T té ngã, tiếp theo nhóm của D gồm: D, Phạm Văn M, Huỳnh Văn N cũng vào đánh anh Đ và anh T. Bị cáo D đã dùng tay, nón bảo hiểm và ca nhựa đánh anh Đ, còn M và N thì dùng tay, chân đánh anh Đ và anh T, hậu quả làm anh Đ và anh T bị thương.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ cơ sở kết luận vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/10/2016, sau khi nhậu tại quán karaoke T thuộc ấp A, xã Tân A, huyện B, tỉnh Vĩnh Long bị cáo đã dùng nón bảo hiểm – là hung khí nguy hiểm đánh anh Nguyễn Cao Đ bị thương với tỷ lệ chung là 15%. Do đó án sơ thẩm xử bị cáo tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên, qua hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện các đối tượng Phạm Văn M và Huỳnh Văn N cùng với bị cáo D đều tham gia đánh bị hại Đ. Bị cáo D thì dùng tay, chân và nón bảo hiểm đánh anh Đ, còn M và N thì dùng tay, chân đánh anh Đ cùng với bị cáo D. Do đó thương tích của bị hại Đ là do bị cáo D và M, N cùng gây ra, nhưng quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chỉ ra quyết định khởi tố bị cáo D về tội “Cố ý gây thương tích”, còn M chỉ xử phạt vi phạm hành chính là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Tại bảng kết luận giám định pháp y về thương tích số 141/TgT ngày 09/11/2016 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Vĩnh Long kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Cao Đ là 15% (bút lục số 19-20); theo bảng kết luận giám định pháp y về thương tích số 140/TgT ngày 09/11/2016 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Vĩnh Long kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Lê Thanh T là 04% (bút lục số 21-22). Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B có Công văn đề nghị Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long xem xét tỷ lệ thương tật của bị hại Đẳng sau khi tách tỷ lệ thương tật theo từng vết thương. Tại Công văn số 20/VB-PY ngày 22/02/2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Vĩnh Long đã xác định bị cáo D gây ra hai vết thương cho anh Đ với tỷ lệ 11%; đối tượng Phạm Văn M gây ra hai vết thương tỷ lệ chung là 03% (bút lục số 24). Từ đó Cơ quan Cảnh sát điều tra – công an huyện Bình Tân xác định chỉ có bị cáo D phạm tội “Cố ý gây thương tích”, còn đối tượng M và Nh thì chỉ vi phạm hành chính, đồng thời nhận định trong vụ án các đối tượng tham gia đánh nhau không có bàn bạc, không hô hào, không phân công vai trò cụ thể nên không có đồng phạm và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D và M là chưa chính xác.

Bởi vì, theo lời khai của bị cáo D cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Tại tờ thừa nhận đề ngày 06/12/2016 (bút lục số 94) Phạm Văn M trình bày: thấy D đánh ông mặc áo xám bằng tay, tôi  thấy vậy nên chạy lại đánh tiếp D, tôi đánh ông mặc áo xám vào người nhiều cái bằng tay. Sau đó, D lấy nón bảo hiểm đánh nhiều cái vào đầu của ông mặc áo xám thì được mọi người can ra,…tiếp theo hai ông đó vào ghế sa lon ngồi thì D tiếp tục cầm ca nhựa đánh liên tục vào đầu ông mặc áo xám, M cũng đánh bằng tay nhiều cái vào người ông mặc áo xám.

Tại tờ thừa nhận đề ngày 13/02/2017 (bút lục số 95), D trình bày D đánh ông mặc áo sơ mi xám, M và N cũng nhào ra đánh ông đó bằng tay vào mặt, người,…

Tại biên bản ghi lời khai ngày 19/12/2016 (bút lục số 118), bị hại Nguyễn Cao Đ trình bày: tôi xác định được vết thương khuỷu tay trái và vết thương gối trái của tôi do M là người mặc áo sơ mi đỏ dùng chân đạp tôi ngã xuống gạch nên bị thương.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 06/12/2016 (bút lục số 126), biên bản ghi lời khai ngày 06/02/2017 (bút lục số 130), M đều khai cùng D và N đánh bị hại Đ bị thương, M xác định có đạp anh Đ té ngã xuống nền gạch, tiếp theo D và M cũng vào đánh anh Đ thì được mọi người can ngăn. Khi anh Đ và anh T vào quầy tính tiền thì D, M và N tiếp tục vào đánh anh Đ, lần này D dùng ca nhựa đánh vào đầu anh Đ cho đến khi ca bị bể, còn M và N thì dùng tay đánh vào đầu anh Đ, khi được mọi người can ngăn thì các đối tượng mới dừng lại và bỏ về.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 19/10/2016 (bút lục số 136), anh Nguyễn Công T – người làm chứng trình bày: thấy D, M và N đánh anh Đ.

Vi Thị Y – người làm chứng cũng trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 25/10/2016 (bút lục số 138): V đứng cách chỗ đánh nhau khoản 2,3 m nên chứng kiến toàn bộ sự việc xảy ra: thấy D, M và N đánh anh Đ hai lần. D đánh bằng nón bảo hiểm, M và N đánh bằng tay.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/10/2016 (bút lục số 140), Nguyễn Thị Kiều D – người làm chứng trình bày: thấy D, M và N đánh anh Đẳng. D có chạy lại đẩy M ra.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 25/10/2016 (bút lục số 142), Huỳnh Thanh T– người làm chứng trình bày: thấy D, M và N đánh anh Đẳng.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 01/11/2016 (bút lục số 158) bà Nguyễn Thị T– mẹ ruột của Phạm Văn M đồng thời là bà nội của Huỳnh Văn N trình bày: qua xem đoạn vidio ghi lại cảnh đánh nhau tại quán Karaoke T vào ngày 16/10/2016 thì bà xác định M và N đều có tham gia đánh người khác.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 02/11/2016 (bút lục số 160) bà Huỳnh Thị N– mẹ ruột của Huỳnh Văn N trình bày: qua xem đoạn vidio ghi lại cảnh đánh nhau tại quán Karaoke T vào ngày 16/10/2016 thì bà xác định M, N và D đều có tham gia đánh người khác.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo D trình bày: bị cáo cùng với bạn là Phạm Văn M và Huỳnh Văn N cùng đánh người bị hại.

Từ những phân tích nêu trên, cho thấy hành vi của Phạm Văn M, Huỳnh Văn N cùng với bị cáo Trần Hữu D có dấu hiệu đồng phạm. Mặc dù không có sự bàn bạc, không phân công vai trò, trách nhiệm nhưng khi bị cáo D dùng tay đánh người bị hại thì M và N lập tức tham gia tấn công liên tục, quyết liệt cùng bị cáo D đánh bị hại Đẳng. Hành vi của M và N đã thể hiện sự tiếp nhận hành vi của nhau, cố ý cùng tấn công bị hại. Hậu quả người bị hại bị thương tích tỷ lệ 15 % là kết quả chung của ba người. Trong đó, bị cáo D giữ vai trò chính, kế đến là M và N. Do đó, cần phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện B đều tra lại vụ án để đảm bảo không bỏ lọt tội phạm.

Bị cáo D không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án sơ thẩm số 06/2017/HSST, ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân.

Giao hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân điều tra lại vụ án. Bị cáo Trần Hữu D không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


167
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2017/HS-PT ngày 21/09/2017 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:69/2017/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về