Bản án 68/2019/DS-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 68/2019/DS-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ D xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:55/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2019 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2019/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung L, sinh năm 1973 và chị Lê Ngọc Đ, sinh năm 1978; Cùng cư trú: Ấp H H, xã T T, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau. Anh L ủy quyền cho chị Đ (văn bản ủy quyền ngày 02/5/2019) (có mặt).

- Bị đơn:

1. Anh Lâm Thanh D, sinh năm 1976; cư trú tại: Ấp H H, xã T T, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Chị Lê Hồng T, sinh năm 1977; cư trú tại: Ấp H H, xã T T, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Lê Ngọc Đ là người được anh Nguyễn Trung L ủy quyền trình bày: Chị và anh L có tham gia chơi hụi trong các dây hụi do anh Lâm Thanh D và chị Lê Hồng T làm chủ hụi, cụ thể:

- Dây hụi 500.000 đồng, mở vào ngày 30/3/2016 âl, 01 tháng khui 02 lần, dây hụi gồm 81 chưng, chị tham gia 01 chưng. Quá trình tham gia hụi đã đóng hụi được 67 lần với số tiền 33.500.000 đồng, chưng hụi này hiện nay chưa mãn.

- Dây hụi 300.000 đồng, mở vào tháng 8/2016 âl, 01 tháng khui 02 lần, dây hụi gồm 45 chưng, chị tham gia 01 chưng. Quá trình tham gia hụi đã đóng hụi đến mãn hụi được số tiền 13.200.000 đồng. Đến ngày 26/12/2018, anh D và chị T tuyên bố đình hụi nhưng không giao hụi chết cho chị.

Cũng trong tháng 4/2018 chị có cho anh D và chị T vay số tiền 15.000.000 đồng. Lãi suất 5%/tháng, nhưng anh D và chị T không đóng lãi. Nay chị Đ yêu cầu anh D, chị T trả cho anh L và chị số tiền hụi và tiền vay là 61.700.000 đồng. Việc chị T làm chủ hụi và vay tiền thì anh D có biết và số tiền trên dùng vào mục đích chung trong gia đình. Do đó chị Đ yêu cầu anh D cùng có trách nhiệm trả nợ với chị T.

Chị Lê Hồng T trình bày: Chị thống nhất với lời trình bày của chị Đ về thời gian mở hụi, loại hụi, số chưng hụi chị Đ và anh L tham gia. Việc chị tuyên bố đình hụi là do các hụi viên hốt hụi nhưng không đóng lại hụi nên không có khả năng lấp hụi. Nay chị thống nhất trả cho anh L và chị Đ số tiền hụi và tiền vay là 61.700.000 đồng. Việc chị làm đầu thảo thì anh D có biết nhưng không tham gia, chị T chỉ đồng ý một mình chỉ trả nợ cho chị Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Trung L và chị Lê Ngọc Đ khởi kiện yêu cầu anh Lâm Thanh D và chị Lê Hồng T trả tiền hụi và tiền vay là vụ kiện tranh chấp hụi và vay, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh D.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của anh L và chị Đ thấy rằng: Giao dịch dân sự giữa các bên là trên cơ sở tự nguyện, được chị Đ và chị T thừa nhận tại biên bản hòa giải của Tòa án cũng như tại phiên tòa. Chị T xác định nợ chị Đ số tiền hụi và tiền vay là 72.600.000 đồng là thực tế có xãy ra, chị T thừa nhận tại biên bản hòa giải của chính quyền ấp H H, xã T T ngày 26/12/2018. Tại phiên tòa chị Đ yêu cầu chị T trả số tiền hụi và tiền vay là 61.700.000 đồng, được chị T đồng ý, nhưng chị T chỉ đồng ý một mình chị trả, chị không đồng ý việc anh D cùng trả.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc chị T làm chủ hụi trong thời gian chị T và anh D còn chung sống với nhau, việc chị T làm chủ hụi để nhận tiền hoa hồng là nhằm mục đích phục vụ cho cuộc sống của gia đình. Do đó, có đủ căn cứ khẳng định số nợ trên phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng nên anh D phải có trách nhiệm cùng chị T trả số nợ trên cho anh L và chị Đ. Do đó, buộc anh D và chị T có trách nhiệm trả cho anh L và chị Đ tổng số tiền hụi và vay là 61.700.000 đồng.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị T và anh D phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Cụ thể: 61.700.000 đồng x 5% = 3.085.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 91; Điều 5; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 463; Điều 465; Điều 466 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung L và chị Lê Ngọc Đ.

1. Buộc chị Lê Hồng T và anh Lâm Thanh D phải có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Trung L và chị Lê Ngọc Đ số tiền hụi và vay là 61.700.000 đồng ( sáu mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng).

2. Kể từ ngày anh Nguyễn Trung L và chị Lê Ngọc Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Lê Hồng T và anh Lâm Thanh D chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng chị T, anh D còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

3. Về án phí dân sự: Chị Lê Hồng T và anh Lâm Thanh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 3.085.000 đồng (ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Anh Nguyễn Trung L và chị Lê Ngọc Đ không phải chịu. Ngày 18 tháng 02 năm 2018 anh Nguyễn Trung L và chị Lê Ngọc Đ đã dự nộp 1.543.000 đồng tại biên lai số 0008988 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được hoàn lại.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/DS-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp hụi

Số hiệu:68/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về