Bản án 68/2018/HSPT ngày 08/11/2018 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 68/2018/HSPT NGÀY 08/11/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 08 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 78/2018/TLPT- HS ngày 31 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Anh Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2018/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện L.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Anh Q, sinh năm 1985 tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình H và bà Phùng Thị C; Có vợ là Phùng Thị Đ và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 19/2013/HSST ngày 05/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện T1 xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 20/4/2013 chấp hành xong hình phạt tù, hiện nay đã được xóa án tích; Bị cáo tại ngoại (có mặt);

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh Q có Giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 21/09/2016. Khoảng hơn 17h ngày 12/01/2018, Q điều khiển xe ô tô tải có biển kiểm soát 88C-093.71, sơn màu vàng, tải trọng 8.750kg, chở hàng từ xã X, huyện L theo đường TL 307 qua xã S, huyện L để về nhà với tốc độ khoảng 50-60km/h. Khi đi đến đoạn đường TL 307 thuộc thôn Đ1, xã S, huyện L Q phát hiện phía trước cách khoảng 20-30m có ông Hoàng Xuân V cùng cháu Nguyễn Khánh L và cháu Trương Quỳnh N đang đứng ở lề đường bên phải đường theo chiều đi của Q, lưng quay ra đường, mặt hướng ra cánh đồng nên Q điều khiển xe đi lấn sang phần đường bên trái để tránh. Khi Q điều khiển xe ô tô đến gần (nhưng không xác định được khoảng cách cụ thể) vị trí ông V và hai cháu nhỏ đứng thì cháu Trương Quỳnh N chạy từ bên phải sang bên trái đường theo chiều ô tô đi, do đang đi với tốc độ khoảng 50-60km/h nên Q chỉ kịp giữ nguyên tay lái và đạp phanh một đoạn dài 8,50m thì xe ô tô dừng lại. Hậu quả: cháu Trương Quỳnh N bị phần đầu phía trước bên trái xe ô tô của Q va chạm và bị bánh trước bên trái xe ô tô chèn đẩy trên mặt đường dẫn đến tử vong tại chỗ. Q để nguyên hiện trường và đến Công an xã S, huyện L để trình báo.

Ngay sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện và trưng cầu giám định tử thi theo quy định.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường lập hồi 18h ngày 12/01/2018 thể hiện: Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường tỉnh lộ 307 thuộc thôn Đ1, xã S, huyện L. Đoạn đường này thẳng, bằng phẳng, khô ráo được trải nhựa toàn phần rộng 6,00m. Theo hướng từ thôn Đ1, xã S đi UBND xã S, tiếp giáp mép đường bên phải là lề đường rộng 1,00m, tiếp theo là cánh đồng ngô; Tiếp giáp mép đường bên trái là lề đường rộng 1,00m, tiếp theo là đường vào nhà ông Trương Đức C có lối mở rộng 6,80m; Lấy cột điện cao thế số VLT-12C cách mép đường bên trái 9,00m làm mốc chuẩn và lấy mép đường bên trái theo hướng đi trên làm chuẩn. Tại hiện trường để lại các dấu vết và vật chứng sau:

 (1) là vị trí xe ô tô biển kiểm soát 88C-093.71 ở trạng thái đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng đi UBND xã S, đuôi xe hướng đi xã X. Trục bánh sau bên trái xe ô tô (1) cách mép đường chuẩn là 1,08m, trục bánh trước bên trái xe ô tô (1) cách mép đường chuẩn là 88cm; trục bánh sau bên phải xe ô tô (1) cách mép đường phải là 2,79m; Trục bánh trước bên phải xe ô tô (1) cách mép đường phải là 2,78m.

 (2) là vết trượt mặt đường bám dính tổ chức mô cơ màu nâu đỏ và dịch máu khô KT (8,50x0,210m), vết thẳng, có hướng từ thôn Đ1, xã S đi UBND xã S. Giữa điểm đầu vết (2) cách cột điện mốc chuẩn là 12,80m, cách mép đường chuẩn là 1,06m, cách điểm giữa lối mở vào cổng nhà ông Trương Đức C là 4,17m và cách trục bánh sau bên trái xe ô tô (1) là 1,90m. Giữa điểm cuối vết (2)cách mép đường chuẩn là 1,00m và trùng với lưng, mông tử thi.

 (3) là vị trí tử thi nữ giới trong trạng thái nằm nghiêng bên trái dưới gầm đầu xe ô tô (1). Đầu tử thi hướng đi xã X và cách mép đường chuẩn là 1,40m, cách trục bánh trước bên trái xe ô tô là 0,74m. Chân tử thi hướng đi UBND xã S và cách mép đường chuẩn là 0,94m.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe ô tô biển kiểm soát88C-093.71 hồi 19h15’ ngày 12/01/2018 thể hiện: Xe ô tô biển kiểm soát 88C- 093.71 loại xe ô tô tải nhãn hiệu DONFENG, phần đầu xe sơn màu vàng - xanh, thùng xe sơn màu trắng - xanh, kích thước dài 9,74m, rộng 2,14m, cao 3,36m. Trên xe có các dấu vết sau:

- Mặt ngoài cạnh dưới phần bên trái ba-đờ-sốc phía trước xe màu sơn xanh có vết trượt sạch đất bẩn trên diện 46cm x 4,5cm. Điểm thấp nhất cao cách mặt đất 59cm, điểm gần nhất cách cạnh ngoài cùng bên trái ba-đờ-sốc là 31cm.

- Mặt lốp bánh trước bên trái xe có vết trượt cao su và bám dính chất màu nâu đỏ trên diện 78cm x 21cm, hướng ngược chiều kim đồng hồ chạy, nhìn từ bên trái xe vào. Điểm gần nhất cách chân van 57cm theo chiều ngược kim đồng hồ.

- Trên toàn bộ mặt lốp phía ngoài của bánh sau bên trái có bám dính tổ chức mô cơ màu nâu đỏ và dịch máu khô rộng 21cm.

Cùng ngày 12/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định số 71 Trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định nguyên nhân tử vong của cháu Trương Quỳnh N. Ngày 15/01/2018, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số: 14/TT kết luận:

 “1. Dấu vết qua giám định: Nhiều vết xây sát da rộng, ít vết thương lóc rách da cơ rộng. Chấn thương ngực kín; gãy kín cung sau xương sờn 9-10. Dập gãy toàn bộ các đốt sống lưng. Chấn thương bụng hở, ruột non rách vỡ thoát ra ngoài. Dập vỡ khung chậu và gãy vỡ đùi trái thành nhiều mảnh, đứt rách toàn bộ bó mạch thần kinh chậu hông trái. Rách tầng sinh môn, bộ phận sinh dục ngoài.

2. Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương, sốc tủy-sốc mất máu không hồi phục.” Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Anh Q đã tự nguyện bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình cháu Trương Quỳnh N số tiền 100.000.000đ. Đại diện của người bị hại là ông Trương Đức T (bố đẻ cháu N) không đề nghị bồi thường khoản gì khác và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Anh Q.

Về vật chứng vụ án đã thu giữ: 01 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 88C- 093.71 và giấy tờ xe gồm: 01 Giấy Chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88C-09371; 01 phô tô đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88C-09371 mang tên Nguyễn Anh Q. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Anh Q, ngày 06/03/2018 Cơ quan điều tra trả lại Q 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Anh Q.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2018/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh Q 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 41, khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, cấm bị cáo Nguyễn Anh Q hành nghề lái xe ô tô 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, tính án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/7/2018 bị cáo Nguyễn Anh Q có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Lý do kháng cáo: Bị cáo là lao động chính và duy nhất, vợ luôn bệnh tật ốm đau, 04 con còn nhỏ dại cần người nuôi dưỡng, chăm sóc.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Anh Q, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện L theo hướng giữ nguyên hình phạt 01 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 02 năm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị không đề nghị xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Q làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét giải quyết.2 Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, các biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện vụ tai nạn giao thông, các kết luận giám định pháp y về tử thi người bị hại…và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được cơ quan điều tra thu thập khách quan, đúng pháp luật. Từ đó có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 17h00’ ngày 12/01/2018, Nguyễn Anh Q có giấy phép lái xe ô tô hạng C điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 88C-09371 có tải trọng 8.750kg chở hàng từ xã X, huyện L đi xã Đ, huyện T. Khi đến đoạn đường TL 307 thuộc thôn Đ1, xã S, huyện L, Q điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 50-60km/h, do không chú ý quan sát phía trước, không đi đúng phần đường, không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào cháu Trương Quỳnh N đang chạy qua đường. Hậu quả làm cháu N bị tử vong tại chỗ do đa chấn thương, sốc tủy-sốc mất máu không hồi phục. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và khoản 6 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Bản án sơ thẩm xét xử Nguyễn Anh Q về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp lý.

3 Xét về nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của Nguyễn Anh Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội do có một phần lỗi của người bị hại; đã tích cực bồi thường cho gia đình người bị hại; bố bị cáo là người có công với nước. Hiện tại hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn đó là vợ bị cáo luôn bị ốm đau, bệnh tật, bị cáo phải nuôi dưỡng chăm sóc 04 con còn nhỏ (Con lớn sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014), bị cáo là lao động chính và duy nhất. Do đó trường hợp buộc bị cáo phảichấp hành hình phạt tù thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của vợ, con bị cáo. Mặt khác, gia đình người bị hại tha thiết đề nghị miễn trách nhiệm hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo. Ngày 05/3/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T1 xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích. Như vậy theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, nhân thân rõ ràng cũng như có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cho nên chỉ cần phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục và cải tạo bị cáo thành công dân có ích. Như vậy kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là có cơ sở, được chấp nhận.

 [4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên Nguyễn Anh Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Anh Q, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

 [1] Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố Nguyễn Anh Q phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Phạt Nguyễn Anh Q 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 08/11/2018.

Giao Nguyễn Anh Q cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

 “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 41, khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự cấm bị cáo Nguyễn Anh Q hành nghề lái xe ô tô 01 năm kể từ ngày bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

2 Về án phí: Nguyễn Anh Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

 [3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


90
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về