Bản án 68/2018/HNGĐ-ST ngày 30/8/2018 về ly hôn và nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THANH HOÁ

BẢN ÁN 68/2018/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2018 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG

Ngày 30 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2017/TLST-HNGĐ ngày 29/3/ 2018 về tranh chấp HN&GĐ. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2018/ HNGĐ-ST ngày 27/7/2018 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Anh Lê Quang D - Sinh năm: 1980

Trú tại: Xóm 6, xã V, huyện T - Thanh Hóa.

- Bị đơn: Chị Lô Thị Công V - Sinh năm 1987 (vắng mặt)

HKTT: Xóm 6, xã V, huyện T - Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 3 năm 2018, lời khai tại Tòa án nhân dân huyện T và tại phiên toà anh Lê Quang D, nguyên đơn trình bày:

[1] Về Hôn nhân: Anh và chị Lô Thị Công V, kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 21/10/2009, tại Ủy ban nhân dân xã V huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau, gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được, vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2018 cho đến trong thời gian sống ly thân không quan tâm đến nhau. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lô Thị Công V.

[2] Về con chung: Anh D khẳng định anh và chị V không có con chung

3] Về tài sản và công nợ: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện anh D đã cung cấp địa chỉ “ Nơi cư trú” của chị Lô Thị Công V và được UBND xã V, huyện T xác nhận đó là địa chỉ của chị V và thời điểm anh D nộp đơn khởi kiện chị V đang có mặt tại địa phương.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tống đạt được thông báo thụ lý vụ án cho chị Lô Thị Công V . Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện anh D đã cung cấp địa chỉ “

Nơi cư trú” của chị Lô Thị Công V và được UBND xã V, huyện T, xác nhận đó là địa chỉ của chị V và tại thời điểm anh D nộp đơn khởi kiện chị V đang có mặt tại địa phương. Quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã thụ lý vụ án đúng quy định. Sau khi thụ lý Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án cho chị V, do chị V bỏ đi không còn ở nơi cư trú mà không thông báo cho anh D biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án giải quyết theo thủ tục chung. Do vụ án không tiến hành hòa giải được, căn cứ vào khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án không tiến hành hòa giải và vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về Hôn nhân: Anh Lê Quang D và chị Lô Thị Công V kết hôn với nhau vào ngày 21/10/2009, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị V là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, tính tình không hợp, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm đến nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh D và chị V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Duy

[3] Về con chung: Anh D và chị V không có con chung.

[4] Về tài sản: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Anh Lê Quang D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: điển e khoản 1 Điều 192; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự ; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Anh Lê Quang D và chị Lô Thị Công V được ly hôn.

2. Về con chung: Anh Lê Quang D và chị Lô Thị Công V không có con chung.

3. Về tài sản: Anh Lê Quang D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

4. Về án phí: Anh Lê Quang D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2017/0001135, ngày 22/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T - Thanh hóa .

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc được niêm yết bản án.


66
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về