Bản án 68/2018/HNGĐ-ST ngày 30/10/2018 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 68/2018/HNGĐ-ST NGÀY 30/10/2018 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 30 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1977, nơi cư trú: tổ 6, khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh A, có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Long H, sinh năm 1977, nơi cư trú: tổ 6, khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh A, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện lại ngày 05 tháng 6 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Long H chung sống với nhau từ năm 1996, chưa đăng ký kết hôn. Lúc đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, về sau xảy ra mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011, bà L yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1998, đã trưởng thành và Nguyễn Đại P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2011. Bà L yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.

- Đối với ông Nguyễn Long H đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng thông qua việc niêm yết công khai về: thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông H vắng mặt, nên Tòa án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được.

Ngày 12 tháng 10 năm 2018 Tòa án mở phiên tòa xét xử và đã triệu tập hợp lệ các đương sự nhưng chỉ có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án hoãn phiên tòa lần thứ nhất.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo qui định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo qui định tại các điều 70,71,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Giữa bà L và ông H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, nhưng chưa đăng ký kết hôn. Theo ý kiến của bà L thì bà và ông H đã không còn sống chung từ năm 2011, nguyên nhân ông H đã sinh sống như vợ chồng với người phụ nữ khác. Do đó, bà L yêu cầu được ly hôn vơi ông H. Tuy nhiên theo quy định khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, bà L và ông H không đăng ký kết hôn, nên không đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, mà cần tuyên bố không công nhận bà L và ông H là vợ chồng.

Về con chung: Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1998, đã trưởng thành, nên không giải quyết. Còn đối với cháu Nguyễn Đại P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2011, thấy rằng sau khi bà L và ông H không còn chung sống với nhau con chung do bà L nuôi dưỡng và cháu P có nguyện vọng được sống với mẹ, cần tiếp tục giao con chung cho bà L nuôi dưỡng.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng theo quy định phát luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và bị đơn vắng mặt;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Bị đơn ông Nguyễn Long H đã được Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên triệu tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Long H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà Trịnh Thị L và ông Nguyễn Long H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, nhưng không đăng ký kết hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, thì “Nam, nữ có điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”. Từ đó, không có cơ sở giải quyết ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Trịnh Thị L và ông Nguyễn Long H theo quy định khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Về con chung: Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1998 (đã trưởng thành), nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Đại P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2011, từ sau khi bà L và ông H không còn sống chung thì con chung do bà L nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được quyền nuôi con chung và cháu P có nguyện vọng được sống với mẹ, để đảm bảo điều kiện sinh hoạt và học tập của cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng, cần tiếp tục giao con chung cho bà L nuôi dưỡng, về cấp dưỡng bà L không yêu cầu, nên không xem xét.

- Về tài sản chung: không yêu cầu toà án giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

Do đó, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận bà Trịnh Thị L và ông Nguyễn Long H là vợ chồng là có cơ sở.

[3] Về án phí: Bà Trịnh Thị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự hôn nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông Nguyễn Long H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 4 Điều 147; Khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị L với ông Nguyễn Long H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Trịnh Thị L và ông Nguyễn Long H là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Đại P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2011 cho bà Trịnh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ông Nguyễn Long H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Trịnh Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Long H thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người người nuôi con.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0004246 ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên, bà L đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.


82
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2018/HNGĐ-ST ngày 30/10/2018 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:68/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tịnh Biên - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về