Bản án 68/2018/DS-PT ngày 21/03/2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 68/2018/DS-PT NGÀY 21/03/2018 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 07, 21 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 274/2017/TLPT-DS ngày 14-11-2017 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 152/2017/DS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T kháng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 256/2018/QĐPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm: 1950.

Địa chỉ: Khu phố B, phường B1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có mặt);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu L – Luật sư, cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tây Ninh (có mặt);

2. Bị đơn:

2.1. Anh Nguyễn Minh Tr, sinh năm 1968.

Địa chỉ: xã H, huyện H1, tỉnh Tây Ninh (có mặt)

2.2. Bà Bùi Thị M, sinh năm 1948. Địa chỉ: thị trấn H1, huyện H1, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Huỳnh Văn Â, sinh năm 1969.

Địa chỉ: phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 14/11/2017), (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Đào Văn V, sinh năm: 1958.

Địa chỉ: phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có mặt);

3.2. Bà Lê Kim A, sinh năm: 1959.

Địa chỉ: phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của bà A: Đào Văn V, sinh năm: 1958.

Địa chỉ: phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 19-06-2017), có mặt.

3.3. Bà Nguyễn Thị R, sinh năm: 1962. Địa chỉ: Khu phố S, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

3.4. Chị Mạc Kim Ch1, sinh năm 1971. Địa chỉ: xã H, huyện H1, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của chị Ch1: Anh Huỳnh Văn Â, sinh năm 1969.

Địa chỉ: phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 14-11-2017), (Có mặt)

3.5. Ông Võ Văn T1, sinh năm 1951; Địa chỉ: thị trấn H1, huyện H1, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

4. Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Minh Tr, bà Bùi Thị M.

5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 02-3-2016 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ch trình bày:

Ngày 30-11-2015, ông Nguyễn Văn Ch và bà Nguyễn Thị R có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của anh La Văn Tiền, chị Bùi Thị Bửu Châu một phần đất diện tích 500 m2, thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Khu phố 6, Phường 3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Đến ngày 21-01-2016, ông Ch, bà R được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là giấy CNQSDĐ) số CB223163, số vào sổ cấp giấy CNQSDĐ CS 04440 ngày 16-12-2016.

Sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông Ch phát hiện đất bị thiếu so với giấy CNQSDĐ bởi vì vào năm 2015 anh Nguyễn Minh Tr, bà Bùi Thị M xây dựng nhà và hàng rào lấn qua đất của ông Ch ở phần mặt hậu.

Theo kết quả đo đạc ngày 19-7-2017 của Công ty TNHH MTV đo đạc bản đồ Bình An thì phần đất của ông Ch thiếu 35 m2 do phần đất của bà M lấn sang đất của ông Ch. Do đó ông Ch khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị M tháo dỡ hàng rào và công trình phụ trên đất có trách nhiệm trả lại cho ông Ch diện tích đất bị lấn chiếm ở mặt hậu là 35 m2.

Tại bản tự khai ngày 23-3-2016 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Minh Tr và người đại diện theo ủy quyền anh Tr trình bày:

Ngày 27-3-2004, anh Tr nhận sang nhượng của anh Võ Thành Phụng phần đất diện tích 750,80 m2 và bên bán đã cắm cọc giao đất cho anh. Ngày 4-7-2008, anh Tr được Uỷ ban nhân dân thị xã Tây Ninh cấp giấy CNQSDĐ số H03742/P3 ngày 4/7/008 với diện tích 750,80 m2, thuộc thửa 118, tờ bản đồ số 6 có tứ cận:

+ Đông giáp đất ông Võ Thành Ngẫu ngang 15 m.

+ Tây giáp đường Nguyễn Chí Thanh ngang 14,98 m.

+ Nam giáp đất ông Võ Thành Long dài 50,06 m.

+ Bắc giáp đất bà Bùi Thị M dài 49,98 m.

Năm 2014, anh Tr xin xây dựng nhà và được UBND thành phố T cấp giấy phép xây dựng tạm. Anh Tr đã làm hàng rào xây tường và nhà trên vị trí đất anh được giao, hiện nay dưới chân móng tường rào vẫn còn trụ ranh. Khi tiến hành xây dựng anh không yêu cầu đo đạc, định vị để xác định tứ cận đất. Anh xác định nhà đất này là tài sản V của anh và chị Mạc Kim Ch1. Diện tích đất của ông Ch sử dụng không giáp với đất của anh nên không có việc anh lấn ranh. Đồng thời, ông Ch mua đất năm 2016, sau khi anh đã xây nhà, làm hàng rào mà không đo đạc cụ thể với người bán. Nay anh Tr không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Ch.

Tại bản tự khai ngày 24-3-2016 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Bùi Thị M và người đại diện theo ủy quyền bà M trình bày:

Ngày 06-3-2004, bà có sang nhượng của ông Võ Thành Ngẫu phần đất diện tích 250,10 m2. Bên bán đã cắm cọc giao đất cho bà làm hàng rào. Ngày 4-7-2008, bà Mđược Uỷ ban nhân dân thị xã Tây Ninh cấp giấy CNQSDĐ số H03743/P3 với diện tích 250,10 m2, thuộc thửa 353, tờ bản đồ số 6, có tứ cận:

+ Đông giáp ông Võ Thành Ngẫu, ngang 4,99 m.

+ Tây giáp đường Nguyễn Chí Thanh, ngang 5 m.

+ Nam giáp ông Võ Thành Phụng, dài 49,98 m.

+ Bắc giáp ông Đào Văn V, dài 49,98 m.

Năm 2014, bà M đã làm hàng rào trên đất, khi tiến hành xây dựng bà không yêu cầu cơ quan chuyên môn tiến hành định vị đất. Bà xác định nhà đất này là tài sản riêng của bà. Diện tích đất của ông Ch theo giấy CNQSDĐ không giáp với đất của bà nên không có việc bà lấn ranh. Bà Mđã mua đất làm hàng rào sử dụng lâu dài, không ai tranh chấp. Đồng thời, ông Ch mua đất năm 2016, sau khi bà đã làm hàng rào mà không đo đạc cụ thể với người bán. Nay bà M không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Ch, ông V.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Tại bản tường trình ngày 19-6-2017, ông Đào Văn V và bà Lê Kim A trình bày:

Vào năm 2001, ông V có nhận chuyển nhượng của ông Võ Thành Ngẫu phần đất diện tích 250,1 m2, đến ngày 14-02-2006 ông V và vợ là bà Lê Kim A đượcUBND thị xã Tây Ninh cấp giấy CNQSDĐ số H01381/P3, diện tích 250,1 m2 thửa số 347, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Khu phố 2, Phường 3, thị xã Tây Ninh.

Ông V xác định ông nhận chuyển nhượng đất trước bà Mvà tại thời điểm ông nhận chuyển nhượng đất thì chủ đất đo đạc cấm trụ ranh đủ hai trụ trước, hai trụ sau và có kéo dây kẽm gai diện tích ngang 5 m đến khi thực hiện thủ tục cấp giấy CNQSDĐ thì địa chính có đến đo đạc lại. Đến năm 2015 sau khi anh Tr, bà Mxây nhà và hàng rào thì ông V phát hiện phần đất của ông bị lấn chiếm mất trụ sau.

Tại bản tường trình ngày 19-6-2017, ông Đào Văn V, bà Lê Kim A yêu cầu bà Mỹ, anh Tr tháo dỡ hàng rào và các công trình, tài sản trên đất để trả lại cho ông bà diện tích đất bị lấn chiếm 173,5 m2.

- Tại bản tự khai ngày 8-3-2016, bà Nguyễn Thị R trình bày: Bà thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông Nguyễn Văn Ch, không có ý kiến bổ sung.

- Đại diện theo ủy quyền của chị Mạc Kim Ch1 trình bày: Chị Chi thống nhất với ý kiến và lời trình bày của anh Tr, bà Mỹ, không có ý kiến bổ sung.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 27-2-2018, ông Võ Văn T1 trình bày: Việc ông Ngẫu là cha ông chuyển nhượng đất cho bà Bùi Thị M và ông Võ Thành Phụng chuyển nhượng đất cho anh Nguyễn Minh Tr thì ông không biết. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông đồng ý tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và tự nguyện hỗ trợ chi phí xây dựng hàng rào cho bà Mỹ, anh Tr số tiền là 5.000.000 đồng.

Tại bản án sơ thẩm số 02/2016/DSST ngày 22 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Văn Ch đối với bà Bùi Thị M và anh Nguyễn Minh Tr.

Buộc anh Nguyễn Minh Tr, chị Mạc Kim Ch1 và bà Bùi Thị M có nghĩa vụ tháo dỡ hàng rào tường gạch đã xây lấn trên đất của ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Thị R với diện tích là 35 m2 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất do Công ty TNHH MTV Đo đạc bản đồ Bình An lập ngày 23-9-2016.

Ngày 6-12-2016, chị Võ Hướng Dương là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án số 70/2017/DSPT ngày 13-4-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:

Chấp nhận Kháng nghị số 01/QĐ/KNPT-DS ngày 07-12-2016 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DSST ngày 22-11-2016 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Ngày 18 tháng 5 năm 2017, Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý lại vụ án theo quy định pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 152/2017/DSST ngày 05-10-2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh quyết định:

Căn cứ Điều 265, 688 Bộ luật Dân sự;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Thị R đối với bà Bùi Thị M.

Buộc bà Bùi Thị M có trách nhiệm tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Thị R diện tích đất 35 m2, có tứ cận sau: Đông Nam giáp thửa 111 dài 3,48 m (phần còn lại đất của ông Ch); Tây Bắc giáp thửa 347 tại điểm số 6; Tây Nam giáp thửa 347 dài 20,12 m; Đông Bắc giáp thửa 111 dài 20,13 m (có sơ đồ kèm theo);

Trên đất có tài sản gồm: Tường rào diện tích 66,11 m2, kết cấu móng gạch, cột gạch, tường xây gạch chưa trát vữa có song sắt phía trên (trên tường có 4 bóng đèn trang trí và 01 trụ đèn cao áp); mương nước diện tích 2,09 m2, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa; hầm chứa mô tơ diện tích 2.09 m2, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa; hồ lọc nước diện tích 2,93 m3, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa, nắp đậy bằng sắt; thảm cỏ diện tích 24,74 m2.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Đào Văn V, bà Lê Kim A đối với bà Bùi Thị M và anh Nguyễn Minh Tr, chị Mạc Kim Ch1.

Buộc anh Nguyễn Minh Tr, chị Mạc Kim Ch1 có trách nhiệm tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho ông Đào Văn V, bà Lê Kim A diện tích đất là 36,6 m2. Có tứ cận: Đông Nam giáp thửa 347 dài 3,56 m (phần còn lại đất của ông V); Tây Bắc giáp thửa 353 (điểm số 19); Tây Nam giáp thửa 353 dài 20,69 m; Đông Bắc giáp thửa 347 dài 20,65 m (có sơ đồ kèm theo);

Trên đất có tài sản gồm: Tường rào diện tích 9,97 m2, kết cấu móng gạch, cột gạch, tường xây gạch chưa trát vữa có song sắt phía trên; mương nước diện tích 2,24 m2, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa; thảm cỏ diện tích 31,97 m2.

Buộc bà Bùi Thị M có nghĩa vụ tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho ông Đào Văn V, bà Lê Kim A diện tích đất 138 m2. Có tứ cận: Đông Nam giáp thửa 347 dài 1,47 m (phần còn lại đất của ông V); Tây Bắc giáp thửa 347 dài 29,15 m; Tây Nam giáp thửa 353 dài 28.81 m; Đông Bắc giáp thửa 111 dài 20,12 m (có sơ đồ kèm theo);

Trên đất có tài sản gồm: Tường rào diện tích 85,74 m2, kết cấu móng gạch, cột gạch, tường xây gạch chưa trát vữa có song sắt phía trên (trên tường có 7 bóng đèn trang trí); bồn hoa diện tích 5,52 m2, kết cấu chính xây gạch, trát vữa hai mặt; mương nước diện tích 0,88 m2, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa; 01 cây sơri khoảng 10 năm tuổi, 15 cây mai chấn thủy có đường kính gốc khoảng 3 cm, 14 bụi trúc kiểng khoảng 20 cây; thảm cỏ diện tích 131,63 m2.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 20-10-2017, anh Nguyễn Minh Tr, bà Bùi Thị M có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ch, ông V.

Ngày 20-10-2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh có Kháng nghị số 06/QĐKNPT-DS, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy án, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Lộc trình bày ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ngày 12-3-2018, ông Ch là nguyên đơn và bà R là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị đơn không đồng ý và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Đào Văn V, bà Lê Kim A vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập. Đề nghị, Hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện trên, vẫn tiến hành xét xử vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa, các đương sự thỏa thuận về việc giải quyết vụ án. Việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng: Ngày 12-3-2018, ông Ch là nguyên đơn và bà R là người có quyền lợi liên quan có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị đơn không đồng ý và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn V, bà Lê Kim A vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông Võ Văn T1 đồng ý tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tự nguyện hộ trợ chi phí xây dựng hàng rào cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án như sau:

+ Hủy 01 phần bản án dân sự sơ thẩm số 152/2017/DSST ngày 05-10-2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh và đình chỉ giải quyết 01 phần vụ án dân sự thụ lý số 274/2017/LPT-DS ngày 14-11-2017 về việc ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Thị R yêu cầu anh Nguyễn Minh Tr, bà Bùi Thị M trả phần đất diện tích 35 m2, tọa lạc thành phố T, tỉnh Tây Ninh, do nguyên đơn không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 217, 311 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Anh Nguyễn Minh Tr, chị Mạc Kim Ch1 có trách nhiệm tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho ông Đào Văn V, bà Lê Kim A diện tích đất là 36,6 m2. Có tứ cận: Đông Nam giáp thửa 347 dài 3,56 m (phần còn lại đất của ông V); Tây Bắc giáp thửa 353 (điểm số 19); Tây Nam giáp thửa 353 dài 20,69 m; Đông Bắc giáp thửa 347 dài 20,65 m (có sơ đồ kèm theo);

Trên đất có tài sản gồm: Tường rào diện tích 9,97 m2, kết cấu móng gạch, cột gạch, tường xây gạch chưa trát vữa có song sắt phía trên; mương nước diện tích 2,24 m2, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa; thảm cỏ diện tích 31,97 m2.

Bà Bùi Thị M có nghĩa vụ tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho ông Đào Văn V, bà Lê Kim A diện tích đất 138 m2. Có tứ cận: Đông Nam giáp thửa 347 dài 1,47 m (phần còn lại đất của ông V); Tây Bắc giáp thửa 347 dài 29,15 m; Tây Nam giáp thửa 353 dài 28.81 m; Đông Bắc giáp thửa 111 dài 20,12 m (có sơ đồ kèm theo);

Trên đất có tài sản gồm: Tường rào diện tích 85,74 m2, kết cấu móng gạch, cột gạch, tường xây gạch chưa trát vữa có song sắt phía trên (trên tường có 7 bóng đèn trang trí); bồn hoa diện tích 5,52 m2, kết cấu chính xây gạch, trát vữa hai mặt; mương nước diện tích 0,88 m2, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa; 01 cây sơri khoảng 10 năm tuổi, 15 cây mai chấn thủy có đường kính gốc khoảng 3 cm, 14 bụi trúc kiểng khoảng 20 cây; thảm cỏ diện tích 131,63 m2.

+ Ông Võ Văn T1, ông Đào Văn V và ông Nguyễn Văn Ch tự nguyện hỗ trợ cho bà Mvà anh Tr, chị Chi số tiền 50.000.000 đồng chi phí xây dựng hàng rào, trong đó ông Tòng hỗ trợ số tiền 30.000.000 đồng và ông Ch, ông V mỗi người hỗ trợ số tiền 10.000.000 đồng.

+ Về chi phí đo đạc, định giá:

Ông Nguyễn Văn Ch phải chịu 6.361.000 đồng (Sáu triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) tiền chi phí đo đạc định giá, ghi nhận đã nộp xong;

Ông Đào Văn V tự nguyện hỗ trợ số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) chi phí đo đạc định giá, ghi nhận đã nộp xong.

Anh Nguyễn Minh Tr, chị Mạc Kim Ch1 và bà Bùi Thị M phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Ghi nhận anh Tr đã nộp xong.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí phúc thẩm: Các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, do anh Tr, bà M là người kháng cáo nên phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 300; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 152/2017/DSST ngày 05 tháng 10 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

1/ Công nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Văn Ch, ông Đào Văn V và ông Nguyễn Minh Tr, bà Bùi Thị M .

2/ Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Hủy 01 phần bản án dân sự sơ thẩm số 152/2017/DSST ngày 05-10-2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh và đình chỉ giải quyết 01 phần vụ án dân sự thụ lý số 274/2017/LPT-DS ngày 14-11-2017 về việc ông Nguyễn Văn Ch, bà Nguyễn Thị R yêu cầu anh Nguyễn Minh Tr, bà Bùi Thị M trả phần đất diện tích 35 m2, tọa lạc khu phố 6, phường 3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

- Buộc anh Nguyễn Minh Tr, chị Mạc Kim Ch1 có trách nhiệm tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho ông Đào Văn V, bà Lê Kim A diện tích đất là 36,6 m2. Có tứ cận: Đông Nam giáp thửa 347 dài 3,56 m (phần còn lại đất của ông V); Tây Bắc giáp thửa 353 (điểm số 19); Tây Nam giáp thửa 353 dài 20,69 m; Đông Bắc giáp thửa 347 dài 20,65 m;

Trên đất có tài sản gồm: Tường rào diện tích 9,97 m2, kết cấu móng gạch, cột gạch, tường xây gạch chưa trát vữa có song sắt phía trên; mương nước diện tích 2,24 m2, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa; thảm cỏ diện tích 31,97 m2.

Bà Bùi Thị M có nghĩa vụ tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho ông Đào Văn V, bà Lê Kim A diện tích đất 138m2. Có tứ cận: Đông Nam giáp thửa 347 dài 1,47 m (phần còn lại đất của ông V); Tây Bắc giáp thửa 347 dài 29,15 m; Tây Nam giáp thửa 353 dài 28.81 m; Đông Bắc giáp thửa 111 dài 20,12 m

(Kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất của công ty TNHH Một thành viên đo đạc bản đồ Bình An ngày 19/7/2017) 

Trên đất có tài sản gồm: Tường rào diện tích 85,74 m2, kết cấu móng gạch, cột gạch, tường xây gạch chưa trát vữa có song sắt phía trên (trên tường có 7 bóng đèn trang trí); bồn hoa diện tích 5,52 m2, kết cấu chính xây gạch, trát vữa hai mặt; mương nước diện tích 0,88 m2, kết cấu đáy xi măng, tường xây gạch trát vữa; 01 cây sơri khoảng 10 năm tuổi, 15 cây mai chấn thủy có đường kính gốc khoảng 3 cm, 14 bụi trúc kiểng khoảng 20 cây; thảm cỏ diện tích 131,63 m2.

- Ông Võ Văn T1, ông Đào Văn V và ông Nguyễn Văn Ch tự nguyện hỗ trợ cho bà Mvà anh Tr, chị Chi số tiền 50.000.000 đồng chi phí xây dựng hàng rào, trong đó ông Tòng hỗ trợ số tiền 30.000.000 đồng và ông Ch, ông V mỗi người hỗ trợ số tiền 10.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về chi phí đo đạc, định giá:

Ông Nguyễn Văn Ch phải chịu 6.361.000 đồng (Sáu triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) tiền chi phí đo đạc định giá, ghi nhận đã nộp xong;

Ông Đào Văn V tự nguyện chịu số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) chi phí đo đạc định giá, ghi nhận đã nộp xong.

Anh Nguyễn Minh Tr, chị Mạc Kim Ch1 và bà Bùi Thị M phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Ghi nhận anh Tr đã nộp xong.

3. Về án phí dân sự:

- Án phí sơ thẩm: Bà Bùi Thị M, anh Nguyễn Minh Tr, chị Mạc Kim Ch1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Ch đã nộp theo biên lai thu số 0002554 ngày 03-3-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.

Ông Đào Văn V, bà Lê Kim A không phải chịu án phí. Hoàn trả ông V, bà Kim Anh số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.500.000 đồng (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004237 ngày 19-6-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.

- Án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Minh Tr, bà Bùi Thị M mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004670 và số 0004671 ngày 20-10-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2018/DS-PT ngày 21/03/2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:68/2018/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 21/03/2018
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về