Bản án 67/2017/HS-ST ngày 28/11/2017 về tội cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 67/2017/HS-ST NGÀY 28/11/2017 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN 

Ngày 28/11/2017 tại Nhà văn hóa TDP 12, phường Nam Lý, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2017/HSST ngày 01/11/2017 đối với bị cáo:

Đinh Văn N; tên gọi khác: H. Sinh ngày: 25/3/1996; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Đội 4, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:   Lớp 7/12; Không nghề nghiệp.Con ông: Đinh Minh P và bà Đoàn Thị S; Anh em ruột: Có 02 người, Ngọc là con đầu, chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2017 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị H; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, TX B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Minh A; Nơi cư trú: TDP9, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

* Nguyên đơn dân sự:

Khách sạn V thuộc Công ty Cổ phần X.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đậu Tiến D – Giám đốc.

Địa chỉ: TDP1, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

* Những người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn T; Nơi cư trú: TDP13, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

2. Chị Cao Mỹ L; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

3. Chị Lê Thị N; Nơi cư trú: xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

4. Anh Lê Đăng N; Nơi cư trú: xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

5. Anh Hoàng Ngọc T; Nơi cư trú: QL1A, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình.Vắng mặt.

6. Chị Trần Thị T; Nơi cư trú: Thôn 4, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

7. Chị Phan Thị Ngọc M; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

8. Anh Phan Văn Đ; Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

9. Anh Trương Quốc T; Nơi cư trú: TDP13, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

10. Anh Trương Xuân T; Nơi cư trú: TDP13, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi Cướp tài sản

Khoảng 02 giờ 30’ ngày 27/7/2017, Đinh Văn N đi qua khách sạn V ở TDP1, phường Đ, thấy một phòng đèn sáng, có tiếng nhạc, nên nghĩ là lễ tân chưa ngủ. Nẩy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, N trèo qua hàng rào lưới B40 đi vào cửa chính thấy phòng lễ tân ở tầng 1 không có người, N đến phòng ngủ của nhân viên dùng tay đẩy cửa thì chị Nguyễn Thị H phát hiện hỏi: “Ai thuê phòng?” N cầm lưỡi cưa bằng kim loại dài khoảng 30 - 40cm dơ lên chỉ vào phía chị H và nói: “Tất cả im lặng không được kêu lên, tao là thằng nghiện đây tao chỉ cần tiền, đưa tiền đây cho tao đi, tao không muốn sát sinh lấy mạng của ai hết”. Chị H trả lời “Tiền không có trong phòng mà ở ngoài quầy lễ tân để cho em ra lấy”. N nói tiếp: “ra lấy nhanh”. N mở hé cửa cho chị H ra lấy rồi đưa tiền cho N. N lấy tiền cất vào túi, đi ra đường Trần Hưng Đạo thì gặp anh Nguyễn Văn T. N xin đi nhờ xe, T chở N đến nhà anh Trương Quốc T ở TDP13, phường N uống rượu. Số tiền chiếm đoạt N tiêu xài cá nhân hết.

Quá trình điều tra, chị H khai số tiền bị N chiếm đoạt là 2.979.000 đồng, trong đó tiền cá nhân của chị H là 450.000 đồng nhưng N thừa nhận là  950.000 đồng. Đại diện của khách sạn V anh Đậu Tiến D và Nguyễn Thị H yêu cầu Đinh Văn N bồi thường số tiền N đã chiếm đoạt.

2. Hành vi Cưỡng đoạt tài sản

Khoảng 06 giờ ngày 27/7/2017 Đinh Văn N đi bộ thì gặp anh Nguyễn Văn T đi xe máy trên đường Hữu Nghị thuộc phường B. N xin đi nhờ về bến xe N để đi xe khách về nhà ở huyện T. Anh T đồng ý và chở N vào bến xe N thuộc TDP8, phường N. N mời anh T vào quán của anh Lê Đăng N uống nước còn N đi bộ ra bãi đỗ xe khách đến gặp anh Hoàng Văn T, chị Trần Thị T xin tiền. Anh T cho N 20.000 đồng, chị T cho N 40.000 đồng. Sau khi anh T và chị T tự nguyện cho N tiền, N lại đến gặp anh Nguyễn Minh A lái xe ô tô BKS 73B- 006.61 đang đón khách. Ngọc nói “cho em xin mấy chục đập đá”. A kiểm tra tiền trong người không có tiền nên trả lời “em không có tiền”. N lớn tiếng giận dữ nói “lái xe mà không có tiền à, vào quán nước mượn đưa đây cho tao”. A thấy N mình trần có hình xăm trên tay, mặt hung dữ nên miễn cưỡng đi cùng N vào quán của anh Lê Đăng N ngồi gần bàn của anh T. N bảo anh A gọi nước uống và mượn tiền của chủ quán để đưa cho N, anh A mượn anh Lê Đăng N 20.000 đồng bỏ giữa bàn. N thấy ít tiền nên nói “lái xe chi mà ít tiền rứa”. A trả lời “không có tiền trong người”. N tức giận cầm ghế gỗ doạ đánh  A. Cùng lúc có khoảng 4 - 5 người chạy đến để đánh N và T. Lúc này T vớ được cây dao gần đó ném về phía thanh niên để bỏ chạy, không trúng người nhưng trúng trên bàn của N và A đang ngồi. Thấy vậy A cầm cây dao đó để chống lại thì N dùng ghế gỗ đuổi A ra ngoài phía cổng bến xe rồi quay lại lấy 20.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt tiền N chưa kịp tẩu thoát thì bị Công an phường N đưa về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra thu giữ tại Đinh Văn N 80.000 đồng; thu giữ tại hiện trường 01 cây dao dài khoảng 30cm, phần cán bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dài 18cm, rộng 0,4cm, mũi nhọn; thu giữ  và trả lại cho Nguyễn Văn T 01 xe mô tô hiệu ReBel BKS 73B1- 023.73.

Tại bản cáo trạng số 70/THQCT-KSĐT-KT ngày 31/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân TP Đồng Hới truy tố bị cáo Đinh Văn N ra trước Tòa án nhân dân TP Đồng Hới để xét xử về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 133 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 135 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng hình phạt. Đề nghị HĐXX áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 133, Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt Đinh Văn N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” và áp dụng Khoản 1 Điều 135; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt Đinh Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt, buộc Đinh Văn N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Toà áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc Đinh Văn N bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn N hoàn toàn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Đinh Văn N khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và tang vật thu giữ được. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/7/2017, Đinh Văn N dùng lưỡi cưa bằng kim loại dài 30 - 40cm là phương tiện nguy hiểm để đe doạ và chiếm đoạt số tiền 950.000 đồng của chị Nguyễn Thị H tại khách sạn V ở TDP1, phường Đ. Hành vi của Đinh Văn N phạm vào tội “Cướp tài sản” được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày Đinh Văn N tiếp tục có hành vi cưỡng đoạt 20.000 đồng của anh Nguyễn Minh A tại bến xe N, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Hành vi của Đinh Văn N đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 135 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

[2] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Đinh Văn N là thanh niên đã trưởng thành, đủ sức lao động và có trình độ nhận thức về xã hội nhất định nhưng do thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện về đạo đức lối sống, chây lười trong lao động, muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng mà bất chấp hậu quả. Bị cáo đã dùng lưỡi cưa bằng kim loại – là hung khí nguy hiểm để đe dọa, khống chế bị hại khiến bị hại hoảng sợ, không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. Đặc biệt, sau khi chiếm đoạt tài sản vài giờ, khi gặp và xin tiền mà anh A không có để cho, N đã đe dọa, uy hiếp và dùng ghế dọa đánh anh A. Hành vi phạm tội của bị cáo vô cùng táo bạo và liều lĩnh, thể hiện thái độ coi thường pháp luật ở mức độ cao.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi của Đinh Văn N cần phải được xử lý nghiêm minh và cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi nghị án HĐXX cũng xem xét quá trình điều tra và tại phiên toà Đinh Văn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện khách sạn V và chị Nguyễn Thị H khai số tiền bị Đinh Văn N chiếm đoạt là 2.979.000 đồng, trong đó tiền cá nhân của chị H là 450.000 đồng và yêu cầu Đinh Văn N bồi thường số tiền trên. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu bồi thường của người bị hại là chính đáng nhưng phía khách sạn V và chị H không xuất trình được chứng cứ chứng minh số tiền bị chiếm đoạt, do đó buộc bị cáo Đinh Văn N phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt 950.000 đồng là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ tại Đinh Văn N 80.000 đồng; thu giữ tại hiện trường 01 cây dao dài khoảng 30cm, phần cán bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dài 18cm, rộng 0,4cm, mũi nhọn là tài sản của anh Lê Đăng N, quá trình phạm tội bị cáo tự ý lấy làm phương tiện gây án, anh N không hề hay biết nên cần trả lại cho anh N. Số tiền 80.000 đồng thu giữ tại Đinh Văn N có 20.000 đồng chiếm đoạt của anh Nguyễn Minh A nên buộc N phải trả lại cho anh A. Tiếp tục tạm giữ 60.000 đồng của Đinh Văn N để đảm bảo thi hành án.

[5] Án phí Hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Đinh Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn N phạm tội “Cướp tài sản" và tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

2. Về Điều luật áp dụng: Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 133; Khoản 1 Điều 135; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 50; Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Đinh Văn N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/7/2017.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đinh Văn N 45 ngày kể từ ngày 28/11/2017 theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đinh Văn N bồi thường cho Khách sạn V số tiền 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi ngàn đồng chẵn).

5. Về vật chứng: Trả 01 cây dao dài khoảng 30cm, phần cán bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dài 18cm, rộng 0,4cm, mũi nhọn cho anh Lê Đăng N và 20.000 đồng cho anh Nguyễn Minh A. Tiếp tục tạm giữ 60.000 đồng của Đinh Văn N để đảm bảo thi hành án. (Các vật chứng trên có tại Quyết định chuyển vật chứng số 40/THQCT-KSĐ-KT ngày 31/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân TP Đồng Hới)

6. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Đinh Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015).

Trong trường hợp bản án thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự Khách sạn V thuộc Công ty Cổ phần X, đại diện theo pháp luật ông Đậu Tiến D – giám đốc có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2017). Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hạn trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


196
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 67/2017/HS-ST ngày 28/11/2017 về tội cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản

Số hiệu:67/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Hới - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về