Bản án 67/2017/HSST ngày 08/08/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 67/2017/HSST NGÀY 08/08/2017 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường Trung tâm sinh hoạt cộng đồng phường B., mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2017/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

VÕ THỊ K. sinh ngày: 20 tháng 6 năm 1999 tại N. Nơi ĐKNKTT: thôn T., xã P., huyện N. P., tỉnh N. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 10/12. Con ông Võ Thành P. và bà Nguyễn Thị L. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 27/6/2015, Trưởng Công an phường M. xử phạt 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. K. nộp phạt ngày: 27/8/2015.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Anh Phạm Hoàng M., sinh ngày: 28/02/1996 (vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị Mỹ H., sinh năm: 1966 (có đơn xét xử vắng mặt) Cùng trú: khu phố X, phường Y, thành phố P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Võ Thị K. bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P. truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Võ Thị K. sử dụng tài khoản Zalo tên C. để lên mạng tìm bạn. Khoảng trưa ngày 30/4/2017, K. làm quen trên Zalo một người tên Phạm Hoàng M. (trên Zalo tên là Phạm Hoàng L.), sinh năm: 1996, trú tại khu phố X, phường Y, thành phố P. Quá trình nói chuyện, nhắn tin, K. xưng tên là Nguyễn T. C., nhà ở P. (gần khu Công an tỉnh), học lớp 12 TN trường N. T. Toàn bộ thông tin này đều không đúng sự thật. Ngày 04/5/2017, K. và M. gặp nhau ngồi nói chuyện ở công viên V. Khoảng 20 giờ cùng ngày thì K. hỏi mượn tiền M. 900.000 đồng để trả nợ. M. đồng ý và đã đưa cho K. số tiền nói trên (số tiền này M. cho K.). Do thấy M. tin tưởng nên K. nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của M. K. giả vờ nói với M. là bị bạn lấy trộm quỹ lớp, đồng thời hỏi M. cho mượn 850.000 đồng để trả tiền quỹ lớp, M. đồng ý. Khoảng 20 giờ ngày 05/5/2017 thì M. cho K. mượn số tiền 850.000 đồng. K. sử dụng số tiền này để tiêu xài cá nhân hết. K. tiếp tục nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt thêm tiền của M. để tiêu xài. Do đó, sáng ngày 13/5/2017, K. gọi điện hẹn M. gặp mặt và giả vờ nói với M. là có mẹ của bạn cần mổ tim cần tiền đóng viện phí. Đồng thời, K. hỏi mượn M. 10.000.000 đồng, M. đồng ý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì M. gọi điện cho K. nói đến gần nhà M. và đưa cho K. 10.000.000 đồng. Số tiền này K. tiêu xài cá nhân hết. Đến tối cùng ngày, K. gọi điện cho M. nói cần thêm tiền cho mẹ bạn mổ tim và hỏi mượn M. thêm 10.000.000 đồng. M. đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/5/2017, M. hẹn K. ở quán cà phê H. ở đường N. để đưa cho K. 10.000.000 đồng. Sau khi có tiền K. đã tiêu xài cá nhân hết. Những ngày tiếp theo K. vẫn gặp gỡ và nói chuyện bình thường. Đến ngày 16/5/2017 thì K. tiếp tục nói với M. là mẹ của bạn cần thêm tiền đóng viện phí nên hỏi mượn thêm M.

M. không có tiền cho K. mượn nên M. nói K. đến nhà M. nói chuyện với mẹ M. và hỏi mượn tiền mẹ M. Khoảng 08 giờ ngày 16/5/2017, K. đến nhà M., gặp mẹ M. là bà Nguyễn Thị Mỹ H., nói chuyện. K. giả vờ nói với bà H. là có người quen mổ tim, cần tiền để đóng viện phí. Bà H. đồng ý giúp với điều kiện ngày hôm sau phải trả. K. đồng ý cho bà H. tin. Bà H. đã cho K. mượn là 29.150.000 đồng. Sau khi nhận được tiền thì K. đi về nhà. K. cất số tiền nói trên vào tủ quần áo ở nhà lấy tiêu xài dần. Sau đó M. có gọi điện, nhắn tin đòi tiền thì K. không nghe máy, không trả lời. K. chặn Zalo, thay sim điện thoại. Đến ngày 19/5/2017, M. đến trình báo với cơ quan điều tra Công an thành phố P. Tại cơ quan điều tra K. đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và chủ động về giao nộp toàn bộ số tiền còn lại cho cơ quan điều tra 26.700.000 đồng.

Số tiền mà K. đã lừa đảo để chiếm đoạt của anh M. là 20.850.000 đồng. Số tiền K. đã lừa đảo để chiếm đoạt của bà H. là 29.150.000 đồng. Tổng số tiền K. đã chiếm đoạt là 50.000.000 đồng.

Cáo trạng số 59/QĐ-KSĐT ngày 04/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P. đã truy tố Võ Thị K. về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 điều 139 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay, bị cáo Võ Thị K. thừa nhận: chỉ trong thời gian từ ngày 05/5/2017 đến ngày 16/5/2017, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối  để lừa đảo anh  Phạm Hoàng M. và bà Nguyễn Thị  Mỹ H. tổng cộng 50.000.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cáo trạng số 59/QĐ-KSĐT ngày 04/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P. đã truy tố Võ Thị K. về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 điều 139 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn dân cư. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo với hình phạt tương xứng nhằm răn đe giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa chung.

[3]Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sơ thẩm cân nhắc xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho anh M. và bà H. toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên, người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 69, điều 74 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục.

[4]Tang vật của vụ án: cơ quan điều tra đã thu hồi được 26.700.000 đồng và trả cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Mỹ H.

[5]Về trách nhiệm dân sự: Võ Thị K. đã thoả thuận bồi thường cho Phạm Hoàng M. số tiền 20.850.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị Mỹ H. 2.450.000 đồng. Anh M. và bà H. đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị K. phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào: Điểm e khoản 2 điều 139, điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 47, điều 60, điều 68, điều 69, điều 74 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Thị K. 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao cho Uỷ ban nhân dân xã P (huyện N. P.) nơi bị cáo Võ Thị K. cư trú để giám sát giáo dục. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)


161
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
    Văn bản được căn cứ
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 67/2017/HSST ngày 08/08/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

    Số hiệu:67/2017/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:08/08/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về