Bản án 67/2017/HSPT ngày 08/09/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 67/2017/HSPT NGÀY 08/09/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 08 tháng 9 năm 2017, tại Trường Trung cấp Luật Đồng Hới, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà lưu động xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2017/HSPT ngày 29/6/2017 đối với bị cáo cáo Cao Viết D do có kháng cáo của bị cáo Cao Viết D đối với bản án hình sự sơ thẩm 17/2017/HSST ngày 25/05/2017 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh  Quảng Bình.

Bị cáo kháng cáo: Cao Viết D, sinh ngày 13/5/1986 tại xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc Kinh;con ông Cao Quang P và bà Thái Thị N; có vợ là Đinh Thị Kim D, có 1 con sinh năm 2011; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại theo Lệnhcấm đi khỏi nơi cư trú,có mặt tại phiên toà.

Trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của các người bị hại là các ông Phạm Văn T, Nguyễn Văn L; có các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông Dương Đình T, Trương Quang N nhưng những người này không có kháng cáo, án không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cáo trạng của VKS nhân dân huyện Tuyên Hóa và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Tp. Tuyên Hóa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 30/12/2016, Cao Viết D điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 73C - 01761 chở gỗ keo đi trên đường Quốc lộ 12A theo hướng Đồng Lê - Ba Đồn, khi đến km 28 + 995 thuộc địa phận thôn Nam Sơn, xã Mai Hoá do D điều khiển xe ô tô chiếm sang phần đường của xe đi ngược chiều nên gây tai nạn với xe mô tô Biển kiểm soát 75F5 - 2022 do anh Trần Văn C trú tại thôn M, xã P điều khiển chở phía sau anh Phạm Văn H trú tại thôn N, xã M. Hậu quả làm anh Trần Văn C và anh Phạm Văn H chết tại chỗ.

Bản kết luận số 01/GĐYK-PY ngày 5/01/2017 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận nguyên nhân anh Trần Văn C chết do đa chấn thương, chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt; Bản kết luận số 02/GĐYK-PY ngày 5/01/2017 của Trung tâm Giám định Y khoa -Pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận nguyên nhân anh Phạm Văn H chết do đa chấn thương, chấn thương cột sống cổ, chấn thương hàm mặt, gãy đa xương.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa đã thu giữ một chiếc xe mô tô Biển kiểm soát75F5-2022 nhãn hiệu Deahan màu sơn nâu, loại xe nữ; một chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 73C-01761 nhãn hiệu DONGFENG,loại xe tải thùng, có mui, 01 giấy phép lái xe hạng E số 440131011683 mang tên Cao Viết D, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát 73C-01761 mang tên Trương Quang N, 01 giấy kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KB 0172124 của xe 73C - 01761 có hiệu lực đến hết ngày 30/3/2017.

Về trách nhiệm Dân sự: Ông Trương Quang N chủ xe và Cao Viết D đã bồi thường cho ông Phạm Văn T đại diện cho người bị hại anh Phạm Văn H số tiền 78.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn L đại diện cho người bị hại anh Trần Văn Csố tiền 80.000.000 đồng và bồi thường tài sản cho ông Dương Anh T  sốtiền5.000.000 đồng.

Cáo trạng số 16/THQCT-KSĐT-TA ngày 30/3/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá  truy tố Cao Viết D về tội “Vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 25/05/2017 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá quyết định tuyên bố bị cáo Cao Viết D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 202, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Cao Viết D 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng vụ án, tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, của đại diện các người bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 30/05/2017, bị cáo Cao Viết D kháng cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện lao động trả nợ tiền vay bồi thường cho các bị hại và còn để chăm lo gia đình đang gặp nhiều khó khăn. Theo đơn kháng cáo của bị cáo, ngày 31/05/2017 đại diện bị hại Phạm Văn H là ông Phạm Văn T có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị cáo Cao Viết D khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng truy tố và xét xử của án sơ thẩm; giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Viết D và đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của ông Phạm Văn T đại diện bị hại Phạm Văn H, để sửa án sơ thẩm giảm cho bị cáo từ 02 đến 03 tháng tù.

Bị cáo Cao Viết D trình bày ý kiến xin hưởng án treo theo đơn kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ vụ án. Sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

1, Về tội danh: Theo lời khai nhận tội của bị cáo Cao Viết D tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành của tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự. Theo đó Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá quyết định tuyên bố bị cáo Cao Viết D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.

2, Về hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:

Bị cáo Cao Viết D bị truy tố và xét xử về  tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự, có mức án từ 3 năm đến 10 năm tù. Án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 1999 xử phạt bị cáo Cao Viết D mức 18 tháng tù trong khi theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án (mẹ bị cáo trong  năm 1982 được tặng 02 Bằng khen, ông ngoại bị cáo là Thương binh, là người có công) thì bị cáo Cao Viết D không thuộc trường hợp được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, là đã xử phạt nhẹ đối với bị cáo.

Với hậu quả gây tai nạn làm chết 02 người, lỗi tai nạn được xác định do bị cáo điều khiển xe ô tô tải tham gia giao thông tránh vượt không đúng quy định, chạy lấn sang phần đường của xe mô tô chạy ngược chiều nên tai nạn xảy ra. Theo tính chất, mức độ vụ án, mức độ ảnh hưởng đối với các gia đình bị hại có thân nhân bị chết và xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa đối với  tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” trong tình hình hiện nay, án sơ thẩm xử không cho bị cáo Cao Viết D được hưởng án treo là đúng.

Theo lý do trình bày xin được hưởng án treo của bị cáo Cao Viết D thì không phải là tình tiết mới chưa được án sơ thẩm xem xét nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo, sửa án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo. Mức án 18 tháng tù mà án sơ thẩm đã xử đối với bị cáo là đã xem xét, chiếu cố nhiều cho bị cáo nên cấp phúc thẩm không thể giảm án cho bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm.

Do cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 không đúng đối với bị cáo, hơn nữa theo Luật 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017/QH14 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tình tiết bị cáo có bố, mẹ là người có có công không còn là tình tiết giảm nhẹ theo điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên khi quyết định hình phạt, cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với bị cáo.

3, Về án phí: Bị cáo Cao Viết D kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Toà án, mức thu án phí vụ án hình sự phúc thẩm đối với bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lựcpháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố Tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Viết D và giữ y án sơ thẩm.

1, Về hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 202, các điểm b, p khoản 1, khoản 2  Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Cao Viết D,xử phạt bị cáo Cao Viết D 18 tháng tù (mười tám tháng) về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2, Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Toà án, mức thu án phí vụ án hình sự phúc thẩm; bị cáo Cao Viết D phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (08/9/2017).


98
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về