Bản án 67/2017/HNGĐ-ST ngày 28/11/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 67/2017/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 28 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện A, Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 327/2017/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1967; ĐKHKTT: Khu C, phường T1, quận H, thành phố Hải Phòng; cư trú tại khu K, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1969; ĐKHKTT: Khu C, phường T1, quận H, thành phố Hải Phòng; cư trú tại số 57, khu T3, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Đình T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Bùi Thị L trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T1, quận H, thành phố Hải Phòng vào năm 1995. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại khu C, phường T1, quận H, thành phố Hải Phòng, sau đó chuyển đến cư trú tại khu K, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị L không chịu tu chí làm ăn, ham cờ bạc, lô đề làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Từ năm 2008, chị L bỏ nhà đi vào miền nam sinh sống, không quan tâm trách nhiệm đến gia đình. Tháng 7 năm 2017, chị L trở về và hiện chị L trú cùng với mẹ đẻ chị L ở số 57, khu T3, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Từ tháng 9 năm 2008 đến nay anh và chị L sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Bùi Thị L.

Về con chung: Anh và chị L có hai con chung là Nguyễn Thanh B, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1996 và Nguyễn Thanh V, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2001. Từ khi chị L bỏ đi, các con chung do anh nuôi dưỡng. Anh đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Thanh V cho anh nuôi dưỡng và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung Nguyễn Thanh B đã trưởng thành nên tự quyết định cuộc sống, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự phân chia nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là chịBùi Thanh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống của chị và anh T theo như anh T đã khai là đúng. Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2010 do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân được khoảng 2 tháng thì chị vào miền nam sinh sống, thỉnh thoảng chị có về nhà thăm con, lần cuối cùng tháng 7 năm 2017 chị về nhà anh T đã thay đổi đuổi chị đi nên chị mới về cư trú cùng mẹ đẻ chị ở xã Đ. Từ tháng 8 năm 2010 đến nay chị và anh T sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì vợ chồng còn ràng buộc bởi con chung nên anh T xin ly hôn, chị không đồng ý, chị đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ.

Về con chung: Chị và anh T có hai con chung theo như lời khai anh T đã trình bày là đúng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho chị và anh T ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Thanh V, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2001 cho chị nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung Nguyễn Thanh B đã trưởng thành nên tự quyết định cuộc sống, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự phân chia nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Khoản 1, Điều 28; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đìnhNghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T và giao con chung Nguyễn Thanh V, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2001 cho anh T nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị L cho anh T; Không xem xét, giải quyết về tài sản. Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai các đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập xác định: Anh Nguyễn Đình T và chị Bùi Thị L kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T1, quận H, thành phố Hải Phòng vào năm 1995. Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân trong thời gian dài từ năm 2008 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị L đã mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trở lên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc anh T xin ly hôn là có cơ sở chấp nhận. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng vợ chồng còn ràng buộc bởi con chung nên chị không đồng ý ly hôn. Song chị L cũng không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn. Vì vậy, việc chị L không đồng ý ly hôn là không có cơ sở chấp nhận.

[2]. Về con chung: Anh Nguyễn Đình T và chị Bùi Thị L có hai con chung là Nguyễn Thanh B, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1996 và Nguyễn Thanh V, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2001. Tòa án xét, hiện tại anh T là công nhân còn chị T buôn bán nhỏ nên khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung như nhau. Tuy nhiên, con chung Nguyễn Thanh V do anh T trực tiếp nuôi dưỡng nhiều năm nay vẫn phát triển tốt, cháu V có nguyện vọng ở với anh T. Nên để đảm bảo quyền lợi cho con chung cần giao con chung Nguyễn Thanh V cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, quan điểm của anh T là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên chấp nhận và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị L cho anh T. Khi nào anh T có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con, Toà án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Đối với con chung Nguyễn Thanh B đã trưởng thành nên tự quyết định cuộc sống, các đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

 [3]. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Đình T và chị Bùi Thị L tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

 [4]. Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1, Điều 28; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

-Căn cứ Điều 6; Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình T được ly hôn chị Bùi Thị L.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thanh V, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2001 cho anh Nguyễn Đình T nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 29 tháng 11 năm 2017 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị L cho anh T. Khi nào anh T có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con, Toà án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Đối với con chung Nguyễn Thanh B, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1996 đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Anh T đã nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A theo Biên lai thu tiền số 7317 ngày 10 tháng 10 năm 2017.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngàytuyên án.


104
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 67/2017/HNGĐ-ST ngày 28/11/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:67/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Dương - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/11/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về