Bản án 66/2020/DS-ST ngày 03/12/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 66/2020/DS-ST NGÀY 03/12/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 03 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 304/2020/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hà Thị Bích L, sinh năm: 1980 Trú tại: Tổ 7 thôn S, xã Nà, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc K, sinh năm: 1977 HKTT: Tổ 7 thôn S, xã Nà, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Hiện nay đang chấp hành án tại: Đội 5, phân trại số 1, trại giam Đại Bình, thôn 11, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 1. Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn bà Hà Thị Bích L trình bày: Bà Hà Thị Bích L và ông Phạm Ngọc K xây dựng gia đình với nhau năm 2003, trên cơ sở tự nguyện, đến ngày 16/11/2006 vợ chồng mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng không được hòa thuận hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bản thân ông K không chịu khó làm ăn và không lo cho vợ con. Nay bà Loan xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Loan yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Loan và ông K được ly hôn.

Về con chung giữa bà Loan và ông K có hai con chung là Phạm Hà Ngọc Oanh, sinh ngày 04/6/2004 và Phạm Ngọc Duy Sang, sinh ngày 15/5/2006. Khi ly hôn bà Loan yêu cầu được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên bà Loan không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại bản tự khai và đơn trình bày yêu cầu giải quyết vắng mặt bị đơn ông Phạm Ngọc K trình bày: Ông Phạm Ngọc K và bà Hà Thị Bích L xây dựng gia đình với nhau năm 2003, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 2003 nhưng đến ngày 16/11/2006 vợ chồng mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2012-2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không hợp nhau và đã sống ly thân 02 năm nay. Nay bà Loan yêu cầu ly hôn thì ông K đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Loan vì mâu thuẫn hai bên đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên ông K yêu cầu Tòa án Lâm Hà thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của bà Loan.

Ông K và bà Loan có hai con chung là Phạm Hà Ngọc Oanh, sinh ngày 04/6/2004 và Phạm Ngọc Duy Sang, sinh ngày 15/5/2006. Hiện nay hai con đang sống cùng bà Loan, còn ông K đang đi chấp hành án nên ông K đồng ý khi ly hôn sẽ giao cả hai con chung cho bà Loan nuôi dưỡng, sau này ông K chấp hành án xong thì ông K sẽ thay đổi người trực tiếp nuôi con sau. Bà Loan nuôi con thì ông K không cấp dưỡng nuôi con vì ông K đã để lại một số tiền để nuôi con.

Về tài sản chung ông bà đã tự thỏa thuận giải quyết xong. Về nợ chung không có nên ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, do ông K phải đi chấp hành án nên ông K yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông K.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng do ông K hiện nay đang chấp hành án tại: Đội 5, phân trại số 1, trại giam Đại Bình, thôn 11, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị Bích L, giao hai con chung cho bà Loan trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Các vấn đề khác không đặt ra để xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, ông Phạm Ngọc K vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án vắng mặt ông K theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Ngọc K và bà Hà Thị Bích L xây dựng gia đình với nhau năm 2003, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 2003 nhưng đến ngày 16/11/2006 vợ chồng mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà Loan cho rằng vợ chồng không được hòa thuận hạnh phúc còn ông K khẳng định vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2012- 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không hợp nhau. Vì vậy, bà Loan yêu cầu ly hôn thì ông K đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Loan. Tại phiên tòa, bà Loan xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, bà Loan cũng đã rất nhiều lấn làm đơn khởi kiện ly hôn nhưng sau đó bà Loan suy nghĩ lại rút đơn khởi kiện để vợ chồng hàn gắn nhưng không có kết quả, đến nay tình cảm vợ chồng không còn nên nên bà Loan yêu cầu giải quyết dứt điểm quan hệ hôn nhân của bà Loan và ông K. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Loan và ông K phát sinh đã lâu ngày nhưng hai bên lại không tìm được biện pháp để cải thiện quan hệ vợ chồng do hai bên không đồng quan điểm trong cuộc sống. Bản thân ông K lại không chịu khó làm ăn và có vi phạm pháp luật làm cho quan hệ hai bên ngày càng mâu thuẫn nặng nề hơn. Ông K vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong lời khai của mình ông K cũng xác định rõ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài nên ông cũng thống nhất giải quyết ly hôn theo yêu cầu của bà Loan. Vì vậy, nếu kéo dài quan hệ hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Loan, xử cho bà Loan và ông K được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: Bà Loan và ông K có hai con chung là Phạm Hà Ngọc Oanh, sinh ngày 04/6/2004 và Phạm Ngọc Duy Sang, sinh ngày 15/5/2006. Tại phiên tòa, bà Loan yêu cầu được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đến nay thì 02 con chung ở với bà Loan, hiện nay 02 cháu cũng đã trên 07 tuổi và trình bày nguyện vọng được sống với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Bản thân ông K cũng trình bày do hiện nay ông K đang đi chấp hành án nên ông K đồng ý giao cả hai con chung cho bà Loan nuôi dưỡng, sau này ông K chấp hành án xong thì ông K sẽ thay đổi người trực tiếp nuôi con sau. Vì vậy để ổn định cuộc sống, học tập của các cháu cần giao cả hai con cho bà Loan nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các con là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con do bà Loan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Bà Loan xác định vợ chồng không có tài sản chung nên bà Loan không yêu cầu giải quyết, còn ông K xác định tài sản chung hai bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong nên ông K cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Các đương sự xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Buộc bà Loan phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử :

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Hà Thị Bích L, xử cho bà Hà Thị Bích L và ông Pham Ngọc K được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cả hai con chung là Phạm Hà Ngọc Oanh, sinh ngày 04/6/2004 và Phạm Ngọc Duy Sang, sinh ngày 15/5/2006 cho bà Hà Thị Bích L có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con. Ông Phạm Ngọc K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Bà Hà Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Hà Thị Bích L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0007747 ngày 06 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Bà Hà Thị Bích L đã nộp đủ án phí.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/12/2020) nguyên đơn có quyền kháng cáo. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2020/DS-ST ngày 03/12/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:66/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lâm Hà - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về