Bản án 66/2019/DS-PT ngày 25/06/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 66/2019/DS-PT NGÀY 25/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ MUA BÁN TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2019/TLPT-DS ngày 11 tháng 4 năm 2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2019/DS-ST ngày 07/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện LH bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 106/2019/QĐ-PT ngày 07/5/2019; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 74/2019/QĐ-PT ngày 30/5/2019 và Thông báo về việc mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số: 539/TB-TA ngày 13/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm: 1962;

Địa chỉ: Thôn PT, xã PT, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Phương Đại N là Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Phương Đại N thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Vợ chồng ông Nguyễn T, sinh năm: 1974;

Bà Trần Thị H, sinh năm: 1974;

Địa chỉ: Số x tổ dân phố HB, thị trấn ĐV, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Quang H, sinh năm: 1989;

Địa chỉ: Thôn PT, xã PT, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng.

2. Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm: 1994;

Địa chỉ: Thôn PT, xã PT, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng.

Do có kháng cáo của bị đơn vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H.

(Ông H, luật sư N, bà H có mặt; anh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; các đương sự khác đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/01/2018 và lời trình bày của nguyên đơn ông Nguyên Xuân H thì:

Ngày 22/01/2015, ông có nhờ con trai là anh Nguyễn Quang H gọi điện thoại trao đổi bán cà phê cho ông T, bà H và ông T, bà H cho xe vào nhà ông để cân, nhận cà phê, lúc đó có anh H chứng kiến việc cân cà phê. Số lượng cà phê ông bán cho ông T, bà H là 12.513kg cà phê robusta nhân khô với giá là 38.800đồng/kg, thành tiền là 485.504.000 đồng.

Ngày 26/01/2015, vợ chồng ông T, bà H đã thanh toán cho ông số tiền 240.000.000đồng, do con ông là Nguyễn Mạnh C (ở cùng nhà với ông) trực tiếp nhận tiền;

Ngày 11/6/2015 vợ chồng ông T, bà H đã thanh toán cho ông số tiền 30.000.000đồng do ông trực tiếp nhận;

Ngày 28/12/2016 âm lịch vợ chồng ông T, bà H đã trả tiếp cho ông được số tiền 5.000.000đồng do con ông là Nguyễn Quang H nhận tiền.

Như vậy, tổng cộng vợ chồng ông T, bà H đã thanh toán tiền mua cà phê của ông là 275.000.000đồng và còn nợ lại 210.504.000đồng chưa trả.

Trước đây ông đã khởi kiện ông T, bà H tại Tòa án nhưng do ông nhận thấy vợ chồng ông T, bà H cố tình lừa đảo, không thanh toán tiền cho ông nên ông rút đơn khởi kiện chuyển hồ sơ sang yêu cầu công an xem xét xử lý về hình sự. Quá trình Công an huyện Lâm Hà làm việc theo đơn tố cáo của ông thì xác định giao dịch giữa ông với ông T, bà H chỉ là giao dịch dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Do vậy, nay ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T, bà H phải trả cho ông số tiền mua cà phê còn nợ là 210.504.000đồng và tiền lãi suất theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ông không còn yêu cầu gì khác.

Chị Nguyễn Bá Thị Th là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H trình bày: Việc mua bán cà phê giữa ông H và ông T, bà H vào năm 2015 như ông H trình bày trên là đúng. Tuy nhiên đến nay, ông T, bà H đã trả hết số tiền mua cà phê của ông H, không còn nợ ông H nữa.

Khi ông T bà H mua cà phê của ông H thì vợ chồng ông T, bà H đã trả trước 240.000.000đồng còn lại số tiền 245.000.000đồng, vào buổi sáng ngày 11/6/2015 đã trả 30.000.000đồng, đến buổi chiều tối cùng ngày đã hết số tiền 215.500.000đồng còn lại.

Vì vậy, hiện nay ông T, bà H không còn nợ ông H nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông H về việc yêu cầu ông T, bà H phải trả cho ông số tiền 210.504.000 đồng.

Anh Nguyễn Quang H trình bày:

Năm 2015, bố anh có 12.512kg cà phê nhân khô loại Robusta, do anh có quen ông T, bà H nên anh đã gọi bán cà phê của bố anh cho ông T, bà Hồng. Khi chốt bán hai bên thỏa thuận với giá 38.800đồng/kg thành tiền là 485.500.000đồng.

Sau khi cân cà phê, ông T, bà H trả cho ông H 240.000.000đồng; lần thứ hai khoảng tháng 6/2015 gia đình anh đòi thì ông T, bà H có trả cho ông H thêm 30.000.000đồng; lần thứ ba anh ra đòi giúp bố anh thì ông T, bà H có trả được 5.000.000đồng, anh là người cầm tiền về giao lại cho bố anh.

Như vậy, tổng số tiền ông T, bà H đã trả cho bố anh là 275.000.000đồng, ông T, bà H còn nợ lại tiền mua cà phê của bố anh. Anh thống nhất Tòa án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của ông H. Ngoài ra, anh H không trình bày hay yêu cầu gì thêm.

Anh Nguyn Mạnh C trình bày:

Năm 2015, anh bán cà phê giúp bố anh là ông H cho ông T, bà H với số lượng 12.513kg, chốt với giá bán 38.800đồng/kg, thành tiền là 485.504.000đồng, khi đó anh đã nhận số tiền 240.000.000đồng do ông T, bà H thanh toán trước và đã giao lại cho ông H, còn lại số tiền 245.000.000đồng.

Sau đó ông T, bà H đã trả cho bố anh thêm hai lần, một lần được 30.000.000đồng vào ngày 11/6/2015, một lần 5.000.000đồng vào ngày 28 tháng chạp âm lịch năm 2016.

Hiện nay ông T, bà H còn nợ lại bố anh 210.504.000đồng. Anh thống nhất Tòa án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của ông H. Ngoài ra, anh C không trình bày hay yêu cầu gì thêm.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2019/DS-ST ngày 07/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện LH đã xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân H, buộc vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H phải trả cho ông Nguyễn Xuân H số tiền nợ mua cà phê chưa thanh toán tổng cộng là 281.281.000đồng (trong đó tiền gốc là 210.500.000đồng và tiền lãi là 70.781.000đồng).

2. Về án phí: Buộc vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H phải chịu 14.064.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Xuân H số tiền 7.148.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0000696 ngày 21 tháng 8 năm 2018.

Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự.

Ngày 19/3/2019, bị đơn vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H kháng cáo không đồng với bản án sơ thẩm vì vợ chồng ông bà đã trả đủ tiền cho ông Nguyễn Xuân H và ông H cũng đã ký xác nhận đã nhận đủ tiền. Nên đề nghị cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huy, anh C đề nghị bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhận định: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa cũng như của đương sự là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H có bán cà phê cho bị đơn vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H. Tuy nhiên, theo ông H do sau khi nhận cà phê vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H đã không thanh toán đủ tiền cho ông H nên xảy ra tranh chấp.

Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản” và bị đơn cư trú tại thị trấn ĐV, huyện LH nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện LH là đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H thì thấy rằng:

Theo ông H thì giữa ông và vợ chồng ông T, bà H có quan hệ mua bán cà phê với nhau. Theo đó ông H đã bán cà phê cho vợ chồng ông T, bà H nhiều lần nhưng phía bị đơn chưa thanh toán hết tiền mua cà phê cho ông nên ông yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền mua cà phê còn thiếu là 210.504.000đồng và lãi suất theo quy định.

Theo chứng cứ tại bút lục số 13, 14 thể hiện các lần bán cà phê thì hai bên đều ghi lại số lượng cà phê giao dịch và giá tiền cụ thể và ông T có ký xác nhận ở dưới. Trong nội dung giấy này, có thể hiện dòng ghi “Ngày 26/1/2015 ứng 240.000.000 Hai trăm bn mươi triệu”.

Tại chứng cứ bút lục số 12 là giấy ghi ngày 15/4/2015 có nội dung: “Chị Hồng nợ Huy 12.513 x 388 = 485.500.000”, “240.000.000 ứng”, “245.000.000” bên dưới là phần ký xác nhận ghi họ tên của “Nguyễn T”, “Trần Thị H”. Dòng cuối cùng của giấy ghi này có thể hiện “11.6.15 Huy ứng chị Hồng 30.000.000”, cuối dòng ghi này có chữ ký “Hồng”.

Mặc dù, trong các giấy ghi số liệu cân cà phê có tên anh H ứng tiền nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh H và anh C có bán cà phê giúp ông H, đồng thời có chứng kiến việc cân số lượng cà phê mua, bán giữa hai bên cũng như có nhận tiền thanh toán từ ông T, bà H để giao lại cho ông H nhưng ông H, anh Huy, anh C cũng như tại phiên tòa hôm nay bà H cũng xác định giao dịch mua bán cà phê là giữa ông T, bà H với ông H; anh H và anh C cũng xác định không liên quan đến vụ án này và cũng không có yêu cầu gì nên không đặt ra để xem xét.

Như vậy, việc ông H cho rằng bị đơn mua của ông 12.513 kg cà phê trị giá 485.500.000 đồng, ông H ứng trước là 240.000.000đồng ngày 26/01/2015 (bút lục 13); và ngày 11/6/2015 ông T, bà H thanh toán thêm cho ông H số tiền là 30.000.000 đồng, số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn là 215.500.000đồng (làm tròn) và ông H ký xác nhận ở dưới là phù hợp với lời khai của ông H và phù hợp với chứng cứ tại bút lục số 12 và bút lục 57.

Còn theo bị đơn cho rằng số tiền 215.500.000đồng bị đơn đã thanh toán cho ông H và ông H ghi đã nhận đủ.

Tuy nhiên, cụm từ “Đã nhận đủ” được ghi tại dòng thứ tư từ trên xuống của chứng cứ (bút lục 57) thì ông H xác định không phải là chữ viết của ông. Theo Kết luận giám định số 1109/GĐ-PC54 ngày 24/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng (bút lục 60) xác định không đủ cơ sở kết luận cụm từ “Đã nhận đủ” có phải là chữ viết của ông H hay không và có màu mực khác với màu mực ghi các nội dung trên giấy này. Theo Biên bản đối chất ngày 08/11/2018 (bút lục 41-42) chị Nguyễn Bá Thị Th là người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn ông T, bà H cũng thừa nhận cụm từ “Đã nhận đủ” là do bà H viết ra sau khi thanh toán hết tiền cho ông H.

Tại phiên tòa hôm nay, bà H xác nhận cụm từ “Đã nhận đủ” là do bà H tự viết chứ không phải ông H viết. Còn ông H thì xác nhận khi chốt số nợ còn lại là 215.500.000 đồng thì chưa có cụm từ “Đã nhận đủ”. Tài liệu có cụm từ “Đã nhận đủ” là do bà H giữ bản chính và xuất trình tại Tòa án. Như đã phân tích theo Kết luận giám định số 1109/GĐ-PC54 ngày 24/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng (bút lục 60) đã kết luận cụm từ “Đã nhận đủ” là không cùng một màu mực với các dòng chữ tại tài liệu cần giám định (bút lục 57). Do đó, có căn cứ xác định cụm từ “Đã nhận đủ” là do bà H tự viết thêm sau khi ông H ký xác nhận số tiền vợ chồng bà H còn nợ.

Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh về việc đã thanh toán xong số nợ trên cho nguyên đơn.

Ngoài ra, ông H cũng thừa nhận ngày 28/12/2016 âm lịch ông T, bà H có trả thêm cho ông số tiền 5.000.000đồng nên cần cấn trừ số tiền này cho bị đơn là có căn cứ.

Vì vậy, việc ông H khởi kiện yêu cầu ông T, bà H phải trả cho ông số tiền còn nợ là 210.500.000đồng là có căn cứ

Về lãi suất cần xác định thời điểm các bên chốt nợ là ngày 11/6/2015, đến ngày 26/01/2018, ông H có đơn khởi kiện, ông H yêu cầu tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định. Do vậy, cần căn cứ vào Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để tính lãi suất như sau: 210.500.000đồng x 0,75% x 44 tháng 25 ngày (tính từ ngày 11/6/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm 07/3/2019) = 70.781.000 đồng (đã làm tròn) là có căn cứ.

Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm cần buộc vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H phải thanh toán cho ông Nguyễn Xuân H là 281.281.000đồng (trong đó tiền gốc là 210.500.000đồng và tiền lãi là 70.781.000đồng).

Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là đúng pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 281.281.000đồng phải thanh toán cho nguyên đơn và do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân H, buộc vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H phải thanh toán cho ông Nguyễn Xuân H số tiền là 281.281.000đồng (trong đó tiền gốc là 210.500.000đồng và tiền lãi là 70.781.000đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H phải chịu 14.064.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho ông Nguyễn Xuân H số tiền 7.148.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0000696 ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.

3/ Về án phí phúc thẩm:

- Buộc vợ chồng ông Nguyễn T, bà Trần Thị H phải chịu số tiền 300.000đồng án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số AA/2016/0001064 ngày 22/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


82
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về