Bản án 66/2017/HSST ngày 30/11/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 66/2017/HSST NGÀY 30/11/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 67/2017/HSST, ngày 01 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2017/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Huy H, sinh năm 1992; Tên gọi khác: M; Nơi sinh: tỉnh Đắk Nông; Nơi đăng ký hộ khẩu thường và trú tại: thôn XT, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm Nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1958; Con bà: Trần Thị L, sinh năm 1960; Có vợ: Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1991; Tiền án: 01 tiền án về tội đánh bạc; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 08/11/2016, bị TAND huyện Đắk Mil xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử tháng 12 tháng về tội “Đánh bạc”; Bị bắt tạm giam từ ngày 19/8/2017 đến ngày 19/9/2017 được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Huỳnh Tấn T, sinh năm 1978; Địa chỉ: thôn XT, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1980; Địa chỉ: thôn ĐV, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

3. Anh Trần Tuấn N, sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn MY, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; Địa chỉ: thôn XT, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

5. Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1983; Địa chỉ: thôn TL, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Sơn Kim L, sinh năm 1996; Địa chỉ: 46 Lý Thường Kiệt, tổ dân phố 06, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

2. Anh Trần Nguyễn Thanh N, sinh năm 1989; Địa chỉ: thôn MY, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông(vắng mặt)

NHẬN THẤY

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30’  phút ngày 30/7/2017, Nguyễn Huy H đi đến quán cà phê Vina Nguyên của chị Nguyễn Thị Kim H (sinh năm 1983, trú tại thôn TL, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) uống nước và thấy bộ đánh Bầu, Cua (gồm 01 đĩa kim loại bằng kim loại, 01 tô bằng kim loại, 03 viên xúc xắc hình lập phương 6 mặt cạnh dài 02cm) nên rủ Huỳnh Tấn T (sinh năm: 1978, trú tại thôn XT, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), Nguyễn Ngọc L (sinh năm: 1980, trú tại thôn ĐV, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), Trần Tuấn N (sinh năm: 1982, trú tại thôn MY, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), Nguyễn Văn T (sinh năm: 1983, trú tại thôn XT, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh bầu cua.

Hình thức đánh bạc như sau: Nguyễn Huy H là người cầm cái, trò chơi chia thành nhiều lượt, không giới hạn số lượng người chơi. Bắt đầu một lượt chơi, ba viên xúc sắc có in hình sáu con vật (bầu, cua, tôm, cá, gà, nai) trên mặt hình lập phương được Nguyễn Huy H đặt trong một tô bằng kim loại và đậy kín bằng đĩa kim loại sau đó lắc đều. Các con bạc đặt cược vào một hoặc nhiều con vật (bầu, cua, tôm, cá, gà, nai) được in hình trên bàn giấy kích thước (40x60)cm để trên mặt đất. Con bạc có thể đặt nhiều con vật trong một lượt chơi và giới hạn mỗi ô cửa đặt cược từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng. Tỷ lệ thắng thua là 1 ăn 1. Khi việc đặt tiền đã xong, nhà cái mở ra, công bố kết quả xúc xắc. Khi mở bát đựng, con vật nào xuất hiện ở mặt trên của viên xúc xắc thì con bạc đặt đặt tiền ở bàn giấy có con vật tương ứng thắng cuộc và được nhận số tiền đã đặt cược cùng với số tiền của nhà cái trả với tỷ lệ 1 ăn 1. Người thua là con vật trên mặt viên xúc xắc đã đặt cược không xuất hiện tương ứng với con vật đã được các con bạc đặt cược trên bàn giấy. Nhà cái sẽ lấy số tiền này của các con bạc. Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Công an huyện Đắk Mil bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 3.600.000 đồng, cách vị trí chiếu bạc 03m thu giữ 01 ví da màu đen bên trong có 4.600.000 đồng, (trong đó ngăn bên ngoài để số tiền 600.000 đồng, ngăn có khóa kéo để 4.000.000 đồng) 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 CMND mang tên Trần Tuấn N.

Tại bản cáo trạng số: 66/CTr-VKS, ngày 30/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và không có bất cứ khiếu nại, ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

*/ Về hình phạt:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; khoản 5 Điều 60; khoản 2 Điều 51 của BLHS, Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Huy H mức án từ 03 tháng đến 06 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 52/2016/HSST, ngày 08/11/2016 của TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông với hình phạt của bản án này chuyển thành hình phạt tù giam. Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Được khấu trừ thời hạn đã tạm giữ, tạm giam của hai bản án).

*/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41của BLHS; Căn cứ Điều 76 của BLTTHS:

- Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã trả lại cho Trần Tuấn N số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng); 01 điện thoại di động hiệu Samsung DVS màu xanh đen bên trong có gắn sim số 0934937169, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 CMND mang tên Trần Tuấn N; Huỳnh Tấn T 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng); Nguyễn Ngọc L 01 điện thoại di động hiệu Nokia 111Oi màu trắng xanh bên trong có gắn sim số 0943312079 là chủ sở hữu hợp pháp.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 4.200.000đ (bốn triệu hai trăm nghìn đồng) dùng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa bằng kim loại; 01 tô bằng kim loại; 03 viên xúc xắc (hình lập phương 6 mặt, cạnh 02cm) in hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 tờ giấy in hình 06 con vật kích thước (40 x 60) cm đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc đánh bạc.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, việc bị truy tố về tội đánh bạc là đúng người, đúng tội, không oan sai nên bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo trình bày lời sau cùng mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Huy H đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng thời gian từ 12 giờ 30 phút đến 15 giờ 50 phút, ngày 30/7/2017, tại thôn TL, xã ĐM, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Huy H (là đối tượng đã có tiền án về tội đánh bạc) Huỳnh Tấn T, Nguyễn Ngọc L, Trần Tuấn N và Nguyễn Văn T đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi Bầu, Cua, được thua bằng tiền với số tiền luân chuyển trên chiếu bạc là 3.600.000đ (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) và 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) mà Trần Ngọc T đã dùng đánh bạc nhưng cất vào trong ví, như vậy tổng số tiền mà bị cáo H và các đối tượng dùng để đánh bạc là 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử căn cứ điểm h khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, đối với một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi của Huỳnh Tấn T, Nguyễn Ngọc L, Trần Tuấn N, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị Kim H chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi của Nguyễn Huy H đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 của BLHS.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Huy H đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Khoản 1 Điều 248 BLHS quy định.

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại  Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm  hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân, bị cáo thừa biết rằng Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm việc đánh bạc, gá bạc, cá độ trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật nhưng vào ngày 30/7/2017, bị cáo Nguyễn Huy H và các đối tượng Huỳnh Tấn T, Nguyễn Ngọc L, Trần Tuấn N và Nguyễn Văn T đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi Bầu, Cua, được thua bằng tiền, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Ngày 08/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự. Ngày 30/7/2017 bị cáo lại phạm tội trong thời gian thử thách mặc dù chưa được xóa án tích nhưng theo quy định thì trường hợp tái phạm của bị cáo là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tại phiên tòa bị cáo đã thực sự tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra. Vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS cho bị cáo đề thể hiện sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo để trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, Trước khi thực hiện hành vi đánh bạc bị cáo Nguyễn Huy H đã bị TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, cùng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2016/HSST ngày 08/11/2016. Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên HĐXX xét thấy cần chuyển hình phạt 03 tháng tù, cho hưởng án treo thành 03 tháng tù có thời hạn và tổng hợp với hình phạt của bản án này theo quy định tại khoản 5 Điều 60 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự mới phù hợp.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội; có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41của BLHS; Căn cứ Điều 76 của BLTTHS:

- Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil sau khi chứng minh đã trả lại cho Trần Tuấn N số tiền 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung DVS màu xanh đen bên trong có gắn sim số 0934937169, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 CMND mang tên Trần Tuấn N; Huỳnh Tấn T 700.000 đồng; Nguyễn Ngọc L 01 điện thoại di động hiệu Nokia 111Oi màu trắng xanh bên trong có gắn sim số 0943312079 do không liên quan đến việc đánh bạc là phù hợp cần chấp nhận.

- Đối với số tiền 4.200.000 đồng bị cáo và các đối tượng có liên quan đã dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 đĩa bằng kim loại; 01 tô bằng kim loại; 03 viên xúc xắc (hình lập phương 6 mặt, cạnh 02cm) in hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 tờ giấy in hình 06 con vật kích thước (40 x 60) cm đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc đánh bạc do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[5] Trong vụ án này còn một số vấn đề sau:

- Đối với Huỳnh Tấn T, Nguyễn Ngọc L, Trần Tuấn N, Nguyễn Văn T cùng tham gia đánh bạc và Nguyễn Thị Kim H biết việc biết việc các đối tượng đánh bạc nhưng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã ra Quyết định xử phạt hành chính Huỳnh Tấn T, Nguyễn Ngọc L, Trần Tuấn N, Nguyễn Văn T về hành vi đánh bạc và Nguyễn Thị Kim H về hành vi chứa chấp đánh bạc trái phép nên không đề cập trong vụ án này.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 5 Điều 60; khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy H 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 52/2016/HSST, ngày 08/11/2016 của TAND huyện Đắk Mil chuyển thành 03 tháng tù có thời hạn. Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được khấu trừ thời hạn đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2016 đến ngày 28/9/2016 của bản án số 52/2016/HSST ngày 08/11/2016 và thời hạn tạm giam từ ngày 19/8/2017 đến 19/9/2017 của bản án này).

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41 của BLHS; Căn cứ Điều 76 của BLTTHS:

- Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã trả lại cho Trần Tuấn N số tiền 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung DVS màu xanh đen bên trong có gắn sim số 0934937169; 01 giấy phép lái xe hạng A1; 01 CMND mang tên Trần Tuấn N; trả lại cho Huỳnh Tấn T 700.000 đồng; trả lại cho Nguyễn Ngọc L 01 điện thoại di động hiệu Nokia 111Oi màu trắng xanh bên trong có gắn sim số 0943312079 do không liên quan đến việc đánh bạc.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 4.200.000 đồng bị cáo và các đối tượng có liên quan đã dùng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa bằng kim loại; 01 tô bằng kim loại; 03 viên xúc xắc (hình lập phương 6 mặt, cạnh 02cm) in hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 tờ giấy in hình 06 con vật kích thước (40 x 60) cm đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc đánh bạc do không có giá trị sử dụng. (Theo biên bản giao nhận ngày 01/11/2017 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Mil và Chi cục THA dân sự huyện Đắk Mil)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


98
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về